Chương 1: Cơ sở lý luận về hiệu quả hoạt động tạo nguồn vốn của ngân hàng thương mại. - Chương 2: Thực trạng hiệu quả tạo nguồn vốn tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam - chi nhánh tỉnh Bạc Liêu. - Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả tạo nguồn vốn tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam - chi nhánh tỉnh Bạc Liêu. Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG TẠO NGUỒN VỐN CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.
NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI VÀ NGUỒN VỐN CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI (NHTM) 1. Khái niệm ngân hàng thƣơng mại Khoản 3, Điều 4 Luật các tổ chức tín dụng (TCTD) năm 2010 định nghĩa: “Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận”. NHTM luôn được xem là loại hình ngân hàng quan trọng nhất trong các ngân hàng trung gian. Trong đó “Hoạt động NHTM là việc kinh doanh, cung ứng thường xuyên một hoặc một số các nghiệp vụ như: nhận tiền gửi, cấp tín dụng và cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản”.
Nguồn vốn của ngân hàng thƣơng mại Nguồn vốn để hoạt động kinh doanh của NHTM được hình thành từ các nguồn vốn chủ yếu như sau: 1. Nguồn vốn tự có Nguồn vốn này được hình thành từ vốn điều lệ và vốn tích lũy, đây là số vốn ban đầu của một NHTM. Theo luật các tổ chức tín dụng, vốn tự có gồm giá trị thực có của vốn điều lệ; các quỹ dự trữ; một số tài sản Nợ khác của tổ chức tín dụng theo quy định của NHNN. Vốn tự có là căn cứ để tính các tỷ lệ đảm bảo an toàn trong hoạt động ngân hàng.
- Vốn điều lệ: Là vốn đã được cấp hoặc đã góp của các chủ sở hữu, tuỳ từng loại hình ngân hàng mà vốn điều lệ được hình thành từ các nguồn khác nhau, ngân hàng quốc doanh vốn điều lệ do NSNN cấp dưới hình thức bằng tiền và trái phiếu Chính phủ; ngân hàng cổ phần do cổ đông đóng góp dưới hình thức cổ phiếu; ngân hàng tư nhân thì do cá nhân tự bỏ vốn ra. Các NHTM phải có trách nhiệm bảo toàn và phát 1 triển nguồn vốn này để tăng quy mô hoạt động và khả năng cạnh tranh trên thị trường. - Vốn tích lũy: Vốn này được hình thành trong quá trình hoạt động của ngân hàng thông qua việc trích lập các quỹ hàng năm, việc trích lập các quỹ này được căn cứ vào kết quả hoạt động kinh doanh, trong đó có Quỹ bổ sung vốn điều lệ, trích lợi nhuận chưa chia để bổ sung vốn tự có cho ngân hàng mình. Tỷ lệ trích lập các quỹ tuỳ thuộc vào qui định của từng nước cũng như Điều lệ, Nghị quyết của từng ngân hàng.
Ở một quốc gia, vốn tự có của một ngân hàng còn bao gồm các chứng khoán nợ đã được chuyển đổi (chẳng hạn như trái phiếu được chuyển đổi thành cổ phiếu phổ thông), hoặc các nguồn vốn được Chính phủ cho vay dài hạn để tăng nguồn vốn cho các ngân hàng. Nguồn vốn đi vay NHTM chủ yếu cho vay bằng nguồn vốn nhận tiền gửi, song không phải lúc nào nguồn vốn đó cũng đáp ứng đủ nhu cầu tín dụng, nhiều khi thiếu cả tiền thanh toán cho khách hàng, trước tình huống như vậy, NHTM không thể chờ người đến gửi tiền để sử dụng nguồn vốn ấy được, bởi nếu ngân hàng không thanh toán kịp thời cho khách hàng thì ngân hàng sẽ mất uy tín và bị phạt theo luật định hay cơ hội đầu tư, cho vay sẽ bị bỏ qua. Để giải quyết khó khăn đó, NHTM có thể chủ động đi vay để đáp ứng nhu cầu về vốn trước mắt, NHTM có thể vay từ các nguồn sau: - Nguồn vốn vay ngân hàng Trung ương: NHTM có thể tăng nguồn vốn bằng cách vay tiền của NHTW thông qua hình thức chiết khấu các giấy tờ có giá, tham gia vay tái cấp vốn. Khi ngân hàng có nhu cầu rút tiền mặt của khách hàng, họ có thể mang giấy tờ có giá như: tín phiếu, trái phiếu Kho bạc Nhà nước, tiền chiết khấu, giao dịch trên thị trường mở, …; hoặc thực hiện nghiệp vụ hoán đổi Swap giữa ngoại tệ lấy nội tệ giữa NHTM với NHTW.
Nguồn vốn này hình thành chủ yếu là để đảm bảo khả năng thanh toán của ngân hàng. - Nguồn vốn trên thị trường liên ngân hàng: NHTM có thể vay vốn của ngân hàng khác. Hoạt động này thường là giao dịch vốn ngắn hạn theo các quy định hoạt 2 động của thị trường với các loại lãi suất như: lãi suất qua đêm, lãi suất tuần, lãi suất tháng. - Nguồn vốn vay từ các Tổ chức Tài chính - Tín dụng Quốc tế: Nguồn vốn này khá quan trọng đối với NHTM ở một số quốc gia, tuy nhiên ở Việt Nam thì loại vốn vay chiếm tỷ trọng không lớn, vì NHTM muốn thực hiện nghiệp vụ này thì phải được sự cho phép của NHNN Việt Nam.
Nguồn vốn huy động: Ở nước ta, đây là nguồn vốn chủ yếu và quan trọng nhất của các NHTM, NHTM huy động nguồn vốn này dưới hình thức sau: - Tiền gửi thanh toán, tiền gửi tiết kiệm của các tổ chức và cá nhân. - Vốn đi vay từ các tổ chức tài chính – tín dụng khác. - Vốn từ phát hành giấy tờ có giá. - Vốn huy động khác như: từ hoạt động dịch vụ ủy thác, chẳng hạn như thu tiền điện, nước, thu thuế Ngân sách nhà nước…hoặc tiền gửi từ các hoạt động tài trợ… NHTM sử dụng các nguồn vốn này để phục vụ mục đích kinh doanh của mình.
Lãi suất huy động tùy theo quan hệ cung cầu vốn trên thị trường vốn. Nguồn vốn khác a) Nguồn vốn ủy thác: Thông tư 04/2012/TT-NHNN ngày 08/3/2012 của Thống đốc NHNN Việt Nam quy định về nghiệp vụ nhận ủy thác và ủy thác của TCTD chi nhánh ngân hàng nước ngoài, nêu: - Ủy thác trong lĩnh vực liên quan đến hoạt động ngân hàng là việc bên ủy thác giao cho bên nhận ủy thác thực hiện nghiệp vụ liên quan đến hoạt động ngân hàng theo quy định của Luật các tổ chức tín dụng và các quy đinh của pháp luật có liên quan; bên ủy thác phải trả phí ủy thác cho bên nhận ủy thác. - Bên ủy thác bao gồm: + Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài được thành lập và hoạt động theo quy định của Luật Các TCTD, bao gồm: NHTM, công ty tài chính, ngân hàng hợp tác xã, tổ chức tài chính vi mô và chi nhánh ngân hàng nước ngoài. + Tổ chức khác trong nước không phải là TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài là pháp nhân có năng lực pháp luật dân sự theo quy định của pháp luật.
+ Tổ chức ở nước ngoài là pháp nhân được thành lập và hoạt động theo pháp 3 luật nước ngoài, nơi tổ chức đó được thành lập, có năng lực pháp luật dân sự theo quy định của Bộ luật dân sự về năng lực dân sự của pháp nhân nước ngoài. - Bên nhận ủy thác bao gồm các TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài được thành lập và hoạt động theo quy định của Luật các tổ chức tín dụng, cụ thể: NHTM, công ty tài chính, công ty cho thuê tài chính, ngân hàng hợp tác xã, quỹ tín dụng nhân dân, tổ chức tài chính vi mô và chi nhánh ngân hàng nước ngoài. - Nguồn ủy thác cho vay: Đây là nguồn được hình thành do các tổ chức, cá nhân, ủy thác tiền, tài sản vào ngân hàng, nhờ ngân hàng để cho vay. Nguồn này khá ổn định, ngân hàng thực hiện hộ khách hàng và thu hoa hồng.
- Nguồn ủy thác đầu tư: Ngoài các nguồn trên, NHTM còn nhận được các nguồn ủy thác đầu tư, nguồn này hình thành trên cơ sở các tổ chức cá nhân, ủy thác tiền, tài sản vào ngân hàng. b) Các nguồn khác Các nguồn này được hình thành từ các nghiệp vụ mua, bán, quản lý tài sản giữ hộ. Khi NHTM càng phát triển, nghiệp vụ trung gian càng lớn, thì nguồn này chiếm tỷ trọng ngày càng lớn và quan trọng. HOẠT ĐỘNG TẠO NGUỒN VỐN CỦA NHTM 1.
Vai trò hoạt động tạo nguồn vốn của NHTM 1. Đối với nền kinh tế Hệ thống NHTM đóng vai trò rất quan trọng trong sự phát triển của nền kinh tế. Thông qua hoạt động tạo nguồn vốn chủ yếu là nghiệp vụ huy động vốn mà hệ thống ngân hàng tập trung hầu hết các nguồn vốn tiền tệ tạm thời nhàn rỗi của xã hội, biến tiền nhàn rỗi từ chỗ là phương tiện tích lũy trở thành nguồn vốn lớn của nền kinh tế. Đây là nguồn vốn rất quan trọng để đầu tư phát triển nền kinh tế vì nó không những lớn về số tiền tuyệt đối mà vì tính chất “luân chuyển” không ngừng của nó.
Đặc biệt trong chiến lược phát triển của nước ta là xây dựng nền kinh tế theo hướng công nghiệp hóa hiện đại hóa nhưng điểm xuất phát thấp, ngân sách còn hạn hẹp, hầu như không có tích lũy từ trước, do đó vốn đầu tư cho các ngành kinh tế phải trông đợi rất nhiều vào nguồn vốn nội lực trong đó nguồn từ các ngân hàng huy động được là rất quan trọng vì nó tạo nên sự ổn định vững chắc cho sự 4 phát triển nhanh, ổn định và bền vững lâu dài. Ngoài việc thu hút tiền nhàn rỗi trong xã hội để sử dụng cho đầu tư phát triển bên cạnh đó thông qua nghiệp vụ huy động vốn giúp ngân hàng Nhà nước (NHNN) kiểm soát khối lượng tiền tệ trong lưu thông thông qua việc sử dụng chính sách tiền tệ (tỷ lệ dự trữ bắt buộc, lãi suất cơ bản, lãi suất tái cấp vốn, lãi suất chiết khấu, tỷ giá…). Chẳng hạn muốn thu hút bớt lượng tiền trong lưu thông, NHNN tăng lãi suất cơ bản, lãi suất chiết khấu, tỷ lệ dự trữ bắt buộc, khống chế dư nợ tín dụng, và ngược lại…nhằm điều hòa lưu thông tiền tệ, kiềm chế lạm phát, bnh ổn giá cả. Đối với ngân hàng - Vốn là cơ sở để NHTM tổ chức mọi hoạt động kinh doanh: Bất kỳ loại hình doanh nghiệp nào muốn tiến hành sản xuất kinh doanh phải có vốn, bởi vốn phản ánh năng lực chủ yếu để quyết định khả năng của doanh nghiệp.
Riêng đối với ngân hàng, do tính chất đặc thù kinh doanh tiền tệ, vốn là cơ sở để NHTM tổ chức mọi hoạt động kinh doanh. Nói cách khác ngân hàng không có vốn thì không thể thực hiện các nghiệp vụ kinh doanh, bởi đặc trưng của ngân hàng vốn không chỉ là phương tiện kinh doanh mà còn là đối tượng kinh doanh chủ yếu.