phần mở đầu và kết luận, danh mục từ viết tắt, danh mục bảng và hình, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung đề tài đƣợc kết cấu thành 3 chƣơng nhƣ sau: Chƣơng 1: Lý luận cơ bản về hiệu quả sử dụng vốn tại ngân hàng thƣơng mại Chƣơng 2: Thực trạng hiệu quả sử dụng vốn tại Ngân hàng liên doanh Việt - Nga Chƣơng 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tại Ngân hàng liên doanh Việt - Nga 9 1. CHƢƠNG 1: LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Tổng quan về ngân hàng thƣơng mại 1. Khái niệm về ngân hàng thƣơng mại Sự xuất hiện của Ngân hàng thƣơng mại gắn liền với lịch sử phát triển của nền sản xuất hàng hóa.
Tại mỗi quốc gia trên thế giới, khái niệm về ngân hàng thƣơng mại lại đƣợc định nghĩa theo nhiều cách khác nhau. Đạo luật Ngân hàng năm 1949 của Ấn Độ định nghĩa: “Ngân hàng là hoạt động kinh doanh với mục đích cho vay hoặc đầu tƣ tiền gửi từ công chúng đƣợc hoàn trả theo yêu cầu hoặc cách thức nào đó và có thể rút ra bằng séc, hối phiếu, lệnh hoặc bằng cách khác”. Theo Đạo luật Ngân hàng của Pháp (1941): "Ngân hàng thƣơng mại là những xí nghiệp hay cơ sở mà nghề nghiệp thƣờng xuyên là nhận tiền bạc của công chúng dƣới hình thức ký thác, hoặc dƣới các hình thức khác và sử dụng tài nguyên đó cho chính họ trong các nghiệp vụ về chiết khấu, tín dụng và tài chính". Theo Julia Kagan (Investopedia, Mỹ, 2021) ngân hàng thƣơng mại đƣợc định nghĩa là “một tổ chức tài chính chấp nhận tiền gửi, cung cấp dịch vụ tài khoản séc, cho vay và cung cấp các sản phẩm tài chính cơ bản nhƣ chứng chỉ tiền gửi và tài khoản tiết kiệm cho các cá nhân và doanh nghiệp nhỏ”.
Theo điều 4 văn bản hợp nhất Luật các Tổ chức tín dụng số 07/VBHN/VPQH thông qua ngày 12/12/2017 của Việt Nam quy định: “Ngân hàng thƣơng mại là loại ngân hàng đƣợc thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận”. Nhƣ vậy, có thể hiểu ngân hàng thƣơng mại giống nhƣ một doanh nghiệp, kinh doanh loại hàng hóa đặc biệt là tiền tệ, hƣớng tới mục đích lợi nhuận. Các hoạt động chủ yếu và thƣờng xuyên của ngân hàng thƣơng mại là 10 nhận tiền gửi của khách hàng để cấp tín dụng và thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và làm phƣơng tiện thanh toán. Với tƣ cách là tổ chức kinh doanh, hoạt động của ngân hàng thƣơng mại dựa trên cơ sở chế độ hạch toán kinh tế, nhằm mục tiêu lợi nhuận.
Ngân hàng thƣơng mại đƣợc pháp luật cho phép thực hiện rộng rãi các loại nghiệp vụ kinh doanh ngân hàng nhƣ: nhận tiền gửi có kỳ hạn, không kỳ hạn; thực hiện nghiệp vụ chiết khấu; dịch vụ thanh toán; huy động vốn bằng cách phát hành chứng chỉ nhận nợ. Bản chất của ngân hàng thƣơng mại Ngân hàng thƣơng mại có cơ cấu tổ chức bộ máy nhƣ một doanh nghiệp và bình đẳng trong quan hệ kinh tế với các doanh nghiệp khác. Ngân hàng thƣơng mại có vốn và tự chủ về tài chính. Vì lợi nhuận là mục tiêu tài chính cuối cùng mà hoạt động kinh doanh hƣớng đến, do vậy, hoạt động của Ngân hàng thƣơng mại cũng không nằm ngoài xu hƣớng đó.
Song việc tìm kiếm lợi nhuận phải dựa trên cơ sở tuân thủ luật pháp của nhà nƣớc. Ngân hàng thƣơng mại kinh doanh trong lĩnh vực “đặc biệt” là tiền tệ, ảnh hƣởng trực tiếp đến toàn bộ ngành, lĩnh vực trong nền kinh tế, đời sống xã hội. Do đó, đòi hỏi hoạt động kinh doanh ngân hàng thƣơng mại cần sự thận trọng và khéo léo, tránh những thiệt hại cho xã hội. Chức năng của ngân hàng thƣơng mại Ngân hàng thƣơng mại có những chức năng sau đây: Một là: Trung gian tín dụng Đây đƣợc coi là chức năng quan trọng và cơ bản của ngân hàng thƣơng mại, có ý nghĩa trong việc thúc đẩy nền kinh tế phát triển.
Với chức năng này, Ngân hàng thƣơng mại là tổ chức trung gian, nơi tập trung, huy động các nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi trong nền kinh tế để từ đó hình thành nguồn vốn 11 tín dụng, đáp ứng các nhu cầu về vốn cho nền kinh tế. Vốn sẽ đƣợc điều hòa từ nơi thừa sang nơi thiếu, kích thích quá trình luân chuyển vốn của toàn xã hội và thúc đẩy sự phát triển của quá trình sản xuất. Hai là: Trung gian thanh toán Ngân hàng thƣơng mại sẽ đóng vai trò là thủ quỹ cho các doanh nghiệp và cá nhân, là trung gian thực hiện các giao dịch thanh toán để hoàn tất các quan hệ kinh tế thƣơng mại giữa các khách hàng với nhau bằng các phƣơng tiện nhƣ: ủy nhiệm thu, ủy nhiệm chi, séc, thẻ thanh toán, v.v thông qua tài khoản của khách hàng. Trong thời buổi công nghệ số phát triển mạnh mẽ nhƣ hiện nay, việc các ngân hàng bƣớc vào cuộc đua chuyển đổi số sẽ tạo ra cơ hội lớn để chức năng này đƣợc thực hiện với chất lƣợng cao hơn và khối lƣợng lớn, đảm bảo tiêu chí nhanh, gọn, hiệu quả, chính xác.
Thực hiện đƣợc chức năng này thì ngân hàng thƣơng mại đã góp phần thúc đẩy quá trình trao đổi, mua bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ giữa các tổ chức, cá nhân trong nền kinh tế đƣợc thuận tiện, nhanh chóng - an toàn và tiết kiệm chi phí. Ba là: Chức năng tạo phương tiện thanh toán Với mục tiêu là tìm kiếm lợi nhuận, thông qua các nghiệp vụ kinh doanh đặc thù, dựa trên hai chức năng cơ bản là chức năng tín dụng và trung gian thanh toán, NHTM đã vô hình chung thực hiện chức năng tạo phƣơng tiện thanh toán cho nền kinh tế. Thông qua chức năng trung gian tín dụng, NHTM sử dụng nguồn vốn huy động đƣợc từ dân cƣ để cho vay. Khách hàng sử dụng nguồn tiền cho vay này vào các hoạt động mua sắm hàng hóa, thanh toán, kinh doanh thông qua chức năng trung gian thanh toán.
Số dƣ đƣợc luân chuyển, duy trì trong tài khoản thanh toán của khách hàng đƣợc coi là tiền giao dịch. Từ đó, hệ thống 12 ngân hàng đã làm tăng tổng phƣơng tiện thanh toán trong nền kinh tế, đáp ứng nhu cầu thanh toán, chi trả của xã hội. Bốn là: Cung ứng dịch vụ ngân hàng Ngoài chức năng chính là trung gian tín dụng, trung gian thanh toán và tạo phƣơng tiện thanh toán, các ngân hàng thƣơng mại còn cung cấp đa dạng các dịch vụ cho khách hàng nhƣ: thu ngân quỹ, kiều hối, ủy thác, giấy tờ có giá, bảo lãnh, v.v và các dịch vụ hiện đại trên nền tảng công nghệ nhƣ Internet banking, mobile banking, v.v, tạo ra lợi thế cạnh tranh cũng nhƣ nguồn thu không nhỏ từ hoạt động phi tín dụng cho các ngân hàng. Năm là: Thực thi chính sách tiền tệ của Ngân hàng Trung ương Ngân hàng Trung ƣơng sẽ sử dụng các công cụ chính sách nhƣ dự trữ bắt buộc, nghiệp vụ thị trƣờng mở (OMO), lãi suất, công cụ tái cấp vốn, v.v thông qua ngân hàng thƣơng mại để điều tiết thị trƣờng.
Các loại hình ngân hàng thƣơng mại 1. Phân loại theo hình thức sở hữu Ngân hàng thương mại Nhà nước “đƣợc thành lập, tổ chức dƣới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nƣớc sở hữu 100% vốn điều lệ” (Điều 6, Văn bản hợp nhất Luật các Tổ chức tín dụng). Hiện nay, có 4 ngân hàng TMCP Nhà nƣớc bao gồm: Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam, Ngân hàng TNHH MTV Dầu khí toàn cầu, Ngân hàng TNHH MTV Đại Dƣơng, Ngân hàng TNHH MTV Xây dựng. Ngân hàng thương mại cổ phần là “ngân hàng thƣơng mại đƣợc thành lập, tổ chức dƣới hình thức công ty cổ phần” (Khoản 3, điều 2, thông tƣ 40/2011/TT-NHNN ngày 15/12/2011).
Hiện nay, số Ngân hàng TMCP tại Việt Nam là 31 ngân hàng với số vốn điều lệ từ 3. Ngân hàng thương mại liên doanh là “ngân hàng thƣơng mại đƣợc thành lập tại Việt Nam, bằng vốn góp của Bên Việt Nam (gồm một hoặc nhiều ngân 13 hàng Việt Nam) và Bên nƣớc ngoài (gồm một hoặc nhiều ngân hàng nƣớc ngoài) trên cơ sở hợp đồng liên doanh; là pháp nhân Việt Nam, có trụ sở chính tại Việt Nam. Ngân hàng liên doanh đƣợc thành lập, tổ chức dƣới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên nhƣng không quá 05 thành viên, trong đó một thành viên và ngƣời có liên quan không đƣợc sở hữu vƣợt quá 50% vốn điều lệ” (Khoản 5, điều 2, thông tƣ 40/2011/TT-NHNN ngày 15/12/2011). Hiện nay, có 2 ngân hàng thƣơng mại liên doanh bao gồm: Ngân hàng TNHH Indovina và Ngân hàng Liên doanh Việt – Nga.
Chi nhánh ngân hàng nước ngoài là “đơn vị phụ thuộc của ngân hàng nƣớc ngoài, không có tƣ cách pháp nhân, đƣợc ngân hàng nƣớc ngoài bảo đảm chịu trách nhiệm về mọi nghĩa vụ, cam kết của chi nhánh ngân hàng nƣớc ngoài tại Việt Nam” (Khoản 6, điều 2, thông tƣ 40/2011/TT-NHNN ngày 15/12/2011). Hiện nay, số chi nhánh ngân hàng nƣớc ngoài tại Việt Nam là 9 ngân hàng. Phân loại theo tính chất hoạt động Ngân hàng đa năng là mô hình tập đoàn ngân hàng thực hiện tất cả các hoạt động, nghiệp vụ kinh doanh của cả ngân hàng thƣơng mại và ngân hàng đầu tƣ. Ngân hàng đa năng cũng có thể tham gia sở hữu các cổ phần trong các tập đoàn công nghiệp.
Ngân hàng đa năng đáp ứng các nhu cầu về tài chính của khách hàng khi làm giảm sự phân đoạn thị trƣờng của trung gian tài chính, giúp các công ty dễ dàng tiếp cận các nguồn vốn, làm tăng quy mô của nền kinh tế, giảm chi phí tài chính trong hệ thống ngân hàng và giúp khách hàng quản lý tốt hơn các dòng tài chính.1: Chức năng cơ bản của Ngân hàng đa năng Nguồn: sbv.vn Ngân hàng chuyên doanh là ngân hàng tập trung cung cấp một số dịch vụ ngân hàng nhƣ: chỉ cho vay đối với xây dựng cơ bản, hoặc đối với nông nghiệp, hoặc chỉ cho vay (không bảo lãnh hoặc cho thuê). Ngân hàng chuyên doanh là ngân hàng nhỏ, phạm vi hoạt động hẹp, có tính chuyên môn hóa cao, gặp rủi ro lớn khi các ngành/lĩnh vực mà ngân hàng chuyên doanh phục vụ suy yếu. Hiện nay, tại Việt Nam, các Ngân hàng chủ yếu hoạt động theo hƣớng đa năng, phục vụ đa dạng các ngành nghề, lĩnh vực của nền kinh tế, không còn các ngân hàng chuyên doanh. Ngân hàng bán buôn là ngân hàng chủ yếu phục vụ các ngân hàng, công ty tài chính, Nhà nƣớc và các doanh nghiệp lớn.