Chương 1: Lý luận cơ bản về tổ chức, hoạt động và hiệu quả hoạt động của Qũy tín dụng nhân dân. - Chương 2: Thực trạng hoạt động và hiệu quả hoạt động của các Qũy tín dụng nhân dân trên địa bàn tỉnh Ninh Bình. - Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động Qũy tín dụng nhân dân trên địa bàn tỉnh Ninh Bình. 3 CHƢƠNG 1 LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ TỔ CHỨC, HOẠT ĐỘNG VÀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA HỆ THỐNG QŨY TÍN DỤNG NHÂN DÂN 1.
QŨY TÍN DỤNG NHÂN DÂN – MỘT MÔ HÌNH TỔ CHỨC HỢP TÁC TRONG KINH DOANH TIỀN TỆ 1. Khái niệm và bản chất của Qũy tín dụng nhân dân 1. Khái niệm Qũy tín dụng nhân dân QTDND là một loại hình kinh tế hợp tác trong lĩnh vực tín dụng. QTDND thuộc sở hữu tập thể, được hình thành theo nguyên tắc góp vốn cổ phần và hoạt động theo nguyên tắc tập thể, tự nguyện, hợp tác, bình đẳng.
Để hiểu đầy đủ khái niệm QTDND và bản chất của nó, ta lần lượt đi từ các khái niệm có liên quan. (1) Khái niệm về hợp tác Hợp tác là khái niệm chỉ hành động, có mục tiêu nhất định; trong đó có sự cùng tham gia của 2 hay nhiều người có nhu cầu và lợi ích chung với nhau. Hợp tác là sự hợp sức, hợp lực của những con người để tạo ra sức mạnh mới, để thực hiện những công việc, mà từng người riêng lẻ khó thực hiện, hay thực hiện kém hiệu quả hơn so với hợp tác. Khái niệm hợp tác được dùng phổ biến cho nhiều lĩnh vực của xã hội loài người.
(2) Khái niệm về kinh tế hợp tác Kinh tế hợp tác là chỉ các loại hình tổ chức kinh tế được hình thành và phát triển trên cơ sở hợp tác giữa các thành viên tham gia. Kinh tế hợp tác rất đa dạng về hình tức, quy mô và lĩnh vực hoạt động. (3) Khái niệm về Hợp tác xã Có nhiều định nghĩa về HTX, nhưng đều thể hiện rõ những đặc tính chung của HTX là: - HTX là sự liên kết của những người tham gia cùng góp vốn. Trong HTX nhấn mạnh vai trò con người, chứ không phải số vốn họ góp nhiều hay ít quyết định 4 vai trò của họ.
- HTX là một tổ chức kinh tế đặc thù chứ không phải là một công ty cổ phần hay một tổ chức từ thiện, HTX là tổ chức kinh doanh gắn chặt với hiệu quả và sự rủi ro. Những người góp vốn và HTX có lợi ích chung và nhu cầu chung mà họ mong muốn đạt được. - HTX được quản lý theo nguyên tắc dân chủ. Mỗi thành viên chỉ có một phiếu biểu quyết để quyết định đến các vấn đề chung của HTX, không phân biệt họ góp vốn nhiều hay ít.
- Mục tiêu của HTX là phục vụ thành viên, sau đó mới đến mục tiêu tìm kiếm lợi nhuận. Tuy nhiên lợi nhuận cũng là mục tiêu quan trọng của HTX nhằm đảm bảo duy trì hoạt động của HTX. Bên cạnh đó, mục tiêu của HTX còn nhằm nâng cao địa vị kinh tế- xã hội của thành viên và phục vụ cộng đồng. - Một trong những nguyên tắc cơ bản của HTX là tự nguyện, bình đẳng và cùng có lợi.
Lợi nhuận được phân phối vừa căn cứ vào vốn góp, vừa căn cứ vào mức độ sử dụng dịch vụ của thành viên. (4) Khái niệm về tổ chức tín dụng là hợp tác Khái niệm về tổ chức tín dụng là hợp tác xã ghi trong Luật các TCTD của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2010: “ Tổ chức tín dụng là hợp tác xã là loại hình tổ chức tín dụng được tổ chức theo mô hình hợp tác xã hoạt động trong lĩnh vực ngân hàng nhằm mục đích chủ yếu là tương trợ giữa các thành viên thực hiện có hiệu quả các hoạt động sản xuất, kinh doanh dịch vụ và cải thiện đời sống. Tổ chức tín dụng là hợp tác xã gồm ngân hàng hợp tác xã, QTDND”. Thực chất tín dụng hợp tác là một loại hình kinh tế hợp tác trong lĩnh vực tín dụng, ngân hàng.
(5) Khái niệm về Hợp tác xã tín dụng Khái niệm về HTXTD ghi trong Luật các TCTD của nước Cộng hòa XHCN Việt Nam. “HTXTD là một tổ chức tín dụng hợp tác, là tổ chức kinh doanh tiền tệ và 5 làm dịch vụ ngân hàng, do các tổ chức, cá nhân và hộ gia đình tự nguyện thành lập để hoạt động ngân hàng nhằm mục tiêu chủ yếu là tương trợ nhau phát triển sản xuất, kinh doanh và đời sống”. (6) Khái niệm về QTDND cơ sở Theo chỉ thị số 57/CT-TW ngày 10/10/2000 của Bộ Chính trị: ”Quĩ tín dụng nhân dân cơ sở là loại hình tổ chức tín dụng do các thành viên (chủ yếu là các cá nhân và hộ gia đình ở nông thôn ) góp vốn lập nên, hoạt động theo nguyên tắc tự nguyện tự chủ tự chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động, thực hiện mục tiêu chủ yếu là tương trợ giữa các thành viên nhằm phát huy sức mạnh của tập thể và của từng thành viên và giúp nhau thực hiện có hiệu quả hơn các hoạt động sản xuất kinh doanh dịch vụ và cải thiện đời sống”. Tháng 6/2013, NHHTX được thành lập do chuyển đổi từ QTDTW (7) Khái niệm về Qũy tín dụng nhân dân Trung Ương “QTDNDTW là tổ chức tín dụng hợp tác do các QTDND cơ sở cùng nhau thành lập, nhằm mục đích hỗ trợ và nâng cao hiệu quả hoạt động của cả hệ thống QTDND”.
(8) Khái niệm về hệ thống Qũy tín dụng nhân dân Hệ thống QTDND là tập hợp bao gồm nhiều QTDND, được liên kết chặt chẽ với nhau trong phạm vi cả nước; trong đó mỗi QTDND là một đơn vị kinh tế tự chủ có tư cách pháp nhân, hoạt động độc lập, tự chịu trách nhiệm về hoạt động của mình; đồng thời có sự liên kết chặt chẽ với nhau trong cả nước để thống nhất và phối hợp hoạt động, nhằm mục tiêu tương trợ giữa các thành viên, bảo đảm sự an toàn và phát triển của từng QTDND và toàn hệ thống. Bản chất của Qũy tín dụng nhân dân - Bản chất của QTDND thời kỳ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, quan liêu bao cấp Trước năm 1993, Việt Nam không có QTDND, mà chỉ có các HTXTD. HTXTD là một loại hình kinh tế hợp tác, là một thành phần kinh tế trong thời kỳ quá độ đi lên CNXH. HTXTD do các cá nhân và hộ gia đình tự nguyện cùng nhau thành lập, nhằm mục tiêu tương trợ nhau phát triển sản xuất và đời sống.
HTXTD 6 được thành lập theo nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng và cùng có lợi. Từ năm 1956, Việt Nam tiến hành xây dựng HTXTD trên địa bàn toàn Miền Bắc và năm 1983 ở Miền Nam. Đến đầu những năm 1960, thì hầu hết các xã ở Miền Bắc có HTXTD, đến năm 1985 thì hầu hết HTXTD đã được xây dựng trên phạm vi cả nước. Tại tỉnh Ninh Bình, HTXTD được xây dựng từ năm 1958 và đầu những năm 1960 thì hầu hết các xã trong tỉnh có HTXTD.
Thực chất của HTXTD trong thời kỳ này được thành lập theo kiểu phong trào, không thực sự tôn trọng nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng và mục tiêu tương trợ lẫn nhau. Hoạt động chủ yếu của các HTXTD là theo sự chỉ đạo và ủy nhiệm của NHNN theo từng thời kỳ. Từ khi nền kinh tế nước ta chuyển sang nền kinh tế thị trường, nhất là khi tổ chức và hoạt động của ngân hàng đã đổi mới căn bản, hoạt động của các HTXTD theo cơ chế cũ không còn thích hợp, và do không chuyển hướng kịp thời, nên đã lâm vào tình trạng hết sức khó khăn và hầu hết đã ngừng hoạt động vào năm 1990. - Bản chất của QTDND hiện nay QTDND là một tổ chức kinh tế hợp tác hoạt động trong lĩnh vực tín dụng ngân hàng, với mục tiêu là tương trợ giữa các thành viên.
QTDND là một thành phần kinh tế trong nền kinh tế thị trường đa thành phần kinh tế. Nó được thành lập theo nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, tự chủ, tự chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động. QTDND và HTXTD trước đây có sự giống nhau và khác nhau: - Giống nhau: Đều là tổ chức kinh tế tập thể, hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ, tín dụng, ngân hàng. - Khác nhau: + Về nguyên tắc thành lập: * Các HTXTD trước đây được hình thành có tính chất phong trào, áp đặt chủ quan, thực sự chưa tôn trọng nguyên tắc tự nguyện trong quá trình thành lập.
* Các QTDND được thành lập theo nguyên tắc tự nguyện. + Vê hệ thống tổ chức: * HTXTD hoạt động đơn lẻ, thiếu sự liên kết thành hệ thống để hỗ trợ nhau 7 trong hoạt động. * QTDND ngày nay hoạt động trong một hệ thống từ cơ sở đến Trung ương, tạo ra một mối liên kết, hỗ trợ chặt chẽ để tăng hiệu quả trong hoạt động. + Về đối tượng phục vụ: * HTXTD có đối tượng các xã viên và ngoài xã viên; thậm chí cả ngoài địa bàn hoạt động, nên khả năng kiểm soát quản lý vốn vay, thu hồi vốn gặp khó khăn, đó là một trong những nguyên nhân dẫn tới sự đổ vỡ hàng loạt các HTXTD.
* QTDND với mục đích là tương trợ, giúp đỡ vốn lẫn nhau giữa các thành viên, nên đối tượng phục vụ chủ yếu là các thành viên. + Cơ chế, quy chế hoạt động: * Cơ chế, quy chế hoạt động của QTDND hiện nay đã được hoàn thiện hơn (từ những kinh nghiệm hoạt động của HTXTD trước đây cũng như kinh nghiệm của các nước trên thế giới), nên đảm bảo tính an toàn cho quá trình hoạt động, đồng thời thực hiện được việc kiểm tra, kiểm soát, phát hiện, ngăn chặn những biểu hiện không lành mạnh trong quá trình hoạt động của QTDND và đảm bảo lòng tin của dân để huy động tiền gửi (có bảo hiểm tiền gửi cho người gửi tiền). Những cơ chế, quy chế này trước đây ở hệ thống HTXTD chưa có hoặc chưa được thực hiện đầy đủ. Sự ra đời và vai trò của Qũy tín dụng nhân dân theo mô hình mới trong nền kinh tế thị trƣờng ở Việt Nam.
Tổng quan về sự ra đời và phát triển của các loại hình hợp tác trong kinh doanh tín dụng ở Việt Nam. Từ năm 1956, trên địa bàn Miền Bắc và từ năm 1983 ở Miền Nam, Việt Nam tiến hành thành lập các HTXTD. Đến năm 1985, hầu hết các xã trong cả nước đều có HTXTD, với tổng số 7.160 cơ sở, trong đó ở Miền Bắc có 3.960 cơ sở, ở Miền Nam có 3. Từ năm 1986 đến năm 1990, phát triển thêm gần 500 HTXTD đô thị, đưa tổng số lên 7.