phần mở đầu, danh mục ký hiệu viết tắt, danh mục hình, danh mục bảng, kết luận, phụ lục kết cấu của luận văn gồm 3 chương: CHƢƠNG 1: Cơ sở lý luận về hoạt động thẻ tín dụng CHƢƠNG 2: Thực trạng về hiệu quả hoạt động phát hành thẻ tín dụng tại Ngân hàng TMCP Ngoại Thương – CN Đông Đồng Nai CHƢƠNG 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động phát hành thẻ tín dụng tại Ngân hàng TMCP Ngoại Thương – CN Đông Đồng Nai. 5 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG THẺ TÍN DỤNG 1. Khái niệm chung về thẻ tín dụng 1. Sự ra đời của thẻ trên thế giới Xã hội ngày càng phát triển, kinh tế ngày càng đi lên con người ngày càng yêu cầu sự thuận tiện hơn trong các phương thức thanh toán.
Quá trình phát triển của các phương thức thanh toán đã trải qua nhiều thay đổi và tiến bộ trong từng giai đoạn. Từ việc thanh toán trao đổi hàng hóa từ những vật ngang giá đến sử dụng tiền xu, tiền giấy…thì hiện nay thẻ thanh toán là một trong những phương thức thanh toán không dùng tiền mặt hiện đại và hữu ích được đông đảo mọi người tin dùng. Đây là một hình thức thanh toán tiện lợi, kết hợp cả thanh toán điện tử và thanh toán chứng từ. Nó cung cấp các dịch vụ NH như cho vay và gửi tiền, được xây dựng dựa trên sự phát triển của công nghệ NH.
Sau đây là những dấu mốc quan trọng của sự hình thành và phát triển thẻ thanh toán qua các thời kỳ: Vào năm 1800, Khi những người tiêu dùng và các nhà buôn ở Mỹ đã dùng khái niệm tính nhiệm và uy tín khi trao đổi mua bán, hàng hóa như sử dụng một số tấm thẻ hay loại xu để thay cho thế tiền mặt. Năm 1946, John iggins ở rooklyn (New York) đã nghĩ ra chiếc thẻ NH đầu tiên với tên "Charge-It”. Hóa đơn giao dịch sẽ được chuyển đến NH của iggins khi các KH mua sắm. NH sẽ trả cho các nhà kinh doanh và thu tiền của KH.
Điểm trừ của thẻ Charge-It là thẻ chỉ sử dụng cho KH của NH và trong phạm vi địa phương. Năm 1949, Frank McNamara đã nghĩ ra ý tưởng thanh toán không dùng tiền mặt, bằng ý tưởng sử dụng thẻ tín dụng. Vào năm 1950, Công ty Diners Club do Frank McNamara và các đối tác sáng lập đã phát hành tấm thẻ tín dụng đầu tiên được làm bằng chất liệu nhựa plastic. Vào năm 1959, ank of America, một NH trung ương của Mỹ, thành lập công ty dịch vụ ankAmericard để kinh doanh việc nhượng quyền thương hiệu và phát hành thẻ tín dụng với các NH trên toàn cầu.
Trải qua quá trình phát triển nhanh 6 chóng, công ty dịch vụ ankAmericard đã độc lập và trở thành nhà phát hành thẻ tín dụng VISA vào những năm 1970, và sau đó phát triển thêm dịch vụ thẻ ghi nợ (debit) vào năm 1975. Vào năm 1966, tổ chức tiền thân của MasterCard đã được thành lập, đó là Hiệp hội thẻ Liên NH Mỹ (ICA). ICA được thành lập bởi một nhóm NH phát hành thẻ với mục tiêu thiết kế hệ thống thẻ tín dụng quốc gia. Nhiệm vụ chính của tổ chức này là phát triển một mạng lưới thanh toán rộng rãi và được chấp nhận.
Hiện nay, MasterCard và VISA là hai tổ chức thẻ quốc tế lớn nhất trên toàn cầu. Ngoài ra, còn tồn tại nhiều nhà tổ chức thẻ quốc tế khác như Diners Club, American Express,. tuy quy mô hoạt động của chúng nhỏ hơn. Vào năm 1966 trên thị trường NH mỹ xuất hiện chiếc thẻ ghi nợ (debit) đầu tiên do NH Delaware phát hành.
Kể từ đó có nhiều NH cũng đưa ra ý tưởng tương tự. Năm 1968, Hiệp hội thẻ Liên NH Mỹ (ICA) thiết lập liên kết với NH Banco National của Mexico nhằm mở rộng hoạt động kinh doanh toàn cầu. Qua đó, ICA tìm kiếm đối tác tại Châu Âu và đưa ra thị trường thẻ Eurocard. Đồng thời, vào cùng năm 1968, ICA cũng bước vào thị trường Đông Á bằng việc hợp tác với một số NH tại Nhật Bản.
Tại Việt Nam: Vào năm 1993: Ngoại Thương Việt Nam (Vietcombank) đã triển khai dịch vụ thanh toán thẻ đầu tiên tại Việt Nam. Cũng trong năm này, NH Vietcombank phát hành chiếc thẻ ghi nợ đầu tiên tại Việt Nam, tuy nhiên không được triển khai rộng rãi. Năm 1996, NH Á Châu và Vietcombank đã phát hành chiếc thẻ tín dụng đầu tiên ở Việt Nam 1.2 Khái niệm, đặc điểm cấu tạo và phân loại thẻ 1.1 Khái niệm về thẻ tín dụng 7 Theo Thông tư 19/2016/TT-NHNN hoạt động thẻ NH tại Việt Nam: “Thẻ NH là phương tiện thanh toán do tổ chức phát hành thẻ phát hành để thực hiện giao dịch thẻ theo các Điều kiện và Điều Khoản được các bên thỏa thuận.” "Thẻ tín dụng" (credit card) là một loại thẻ mà chủ sở hữu có quyền sử dụng để thực hiện các giao dịch trong phạm vi hạn mức tín dụng đã được đồng ý với tổ chức phát hành thẻ. Thẻ tín dụng là một hình thức thanh toán không tiền mặt, cho ph p người dùng tiêu tiền trước và sau đó trả tiền cho tổ chức phát hành thẻ.
Tùy vào từng loại thẻ cũng như các tổ chức tín dụng khác nhau sẽ quy định khoản thời gian khác nhau kể từ khi KH thanh toán hàng hóa dịch vụ cho tới khi KH phải trả tiền cho NH. Nếu chủ thẻ không thanh toán số dư nợ trong thời gian quy định đã đề ra thì sẽ phải chịu một lãi suất nhất định. Khi chủ thẻ thanh toán hết số tiền đã phát sinh thì hạn mức tín dụng của chủ thẻ sẽ được khôi phục lại như ban đầu. Dựa trên khả năng đảm bảo chi trả cũng như uy tín của KH NH và các tổ chức tài chính sẽ phát hành loại thẻ tín dụng phù hợp nhất cho KH.
Khả năng chi trả và uy tín của KH ở đây sẽ được NH xác định dựa trên các tiêu chí như tài sản thế chấp, thu nhập, chi tiêu… Hiện nay trên thế giới thì thẻ tín dụng là một phương tiện thanh toán tiên tiến, tiên phong trên toàn cầu. Không chỉ có thể sử dụng để thanh toán trong một quốc gia, mà còn được chấp nhận làm phương thức thanh toán ở các quốc gia khác mà thẻ đó được chấp nhận.3 Phân loại thẻ a) Ph n loạ theo côn n hệ s n uất Thẻ khắc chữ nổi: Đây là loại thẻ được sử dụng đầu tiên với việc sản xuất dựa trên công nghệ khắc chữ nổi, kỹ thuật khá thô sơ, dễ giả mạo nên hiện nay người ta không còn sử dụng nữa. Thẻ thông minh: Thế hệ mới nhất của thẻ thanh toán có cấu trúc hoàn toàn như một máy vi tính. Một tấm thẻ thông minh được gắn chíp điện tử để thay thế cho dải băng từ sau thẻ.
8 Thẻ từ: đây là loại thẻ này có hai băng từ chứa thông tin đằng sau mặt thẻ và được sản xuất dựa trên kỹ thuật thư tín. Đây là loại thẻ đang được sử dụng rộng rãi trên thế giới, tuy nhiên nó lại có một số nhược điểm như bảo mật thông tin không cao như thẻ thông minh, thông tin trên thẻ không được mã hóa…. b) Theo phạm vi sử dụn , có ha loại thẻ tín dụng: Thẻ quốc tế là loại thẻ được cấp ph p và phát hành bởi các tổ chức tín dụng, cho ph p người dùng sử dụng tại các quốc gia khác nhau trên toàn cầu. Thẻ nội địa là loại thẻ được phát hành và chỉ có thể sử dụng trong phạm vi quốc gia nơi thẻ được phát hành.3 Chủ thể tham gia vào hoạt động phát hành thẻ tín dụng Trong quá trình kinh doanh thẻ tín dụng của NH, có sự tham gia mật thiết của bốn thành phần chính gồm: NH phát hành thẻ, NH thanh toán thẻ, chủ thẻ và ĐVCNT.
Đặc biệt đối với thẻ tín dụng, còn có sự tham gia của tổ chức thẻ quốc tế. Mỗi bên đều có vai trò quan trọng và đặc thù riêng trong việc tận dụng tối đa tính năng của phương tiện thanh toán hiện đại không sử dụng tiền mặt của thẻ NH. Tổ chức thẻ quốc tế: là một hiệp hội gồm các tổ chức tài chính, tín dụng và công ty phát hành và thanh toán thẻ quốc tế. Các tổ chức này bao gồm Visa International, MasterCard Incorporated, JC và Diner's Club.
Chúng là các đơn vị hàng đầu trong việc quản lý các hoạt động và thanh toán liên quan đến thẻ trong mạng lưới toàn cầu. TCTQT đặt ra các quy định cơ bản về việc phát hành, sử dụng và thanh toán thẻ. Đồng thời, tổ chức này đóng vai trò trung gian giữa các tổ chức và công ty thành viên trong việc điều chỉnh và cân đối các lượng tiền thanh toán giữa các thành viên. N n hàn phát hành là các tổ chức tài chính và tín dụng có trách nhiệm phát hành thẻ cho các chủ thẻ một cách hợp pháp.”Chúng có thể phát hành những tấm thẻ mang thương hiệu riêng của mình hoặc được Tổ chức thẻ quốc tế và Công ty thẻ trao quyền phát hành thẻ mang thương hiệu của các tổ chức và công ty này.
Tên của NH phát hành được in trên thẻ, đồng nghĩa với việc thẻ đó là sản phẩm của NH đó. 9 NH phát hành có trách nhiệm đặt ra các quy định về điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ cho KH. Họ có quyền ký kết hợp đồng đại lý với các NH“hoặc tổ chức tài chính tín dụng khác để thực hiện thanh toán và phát hành thẻ tín dụng. Trong trường hợp này, NH phát hành tận dụng lợi thế của bên thứ ba về kinh nghiệm, khả năng thâm nhập thị trường và vị trí địa lý.
Tuy nhiên, NH cũng phải”đối mặt với rủi ro tài chính, vì họ đảm bảo cho NH đại lý làm nhiệm vụ phát hành thẻ. NH đại lý, khi ký kết hợp đồng đại lý với NH phát hành, phải là thành viên chính thức của tổ chức thẻ hoặc công ty thẻ quốc tế nếu tên của họ xuất hiện trên thẻ của KH. N n hàn thanh toán: là tổ chức tài chính tín dụng thực hiện chức năng thanh toán thẻ tín dụng qua mạng lưới điểm chấp nhận thẻ“và/hoặc điểm rút tiền mặt và/hoặc máy ATM một cách hợp pháp. Các NH thanh toán chấp nhận các loại thẻ làm phương tiện thanh toán thông qua việc ký kết hợp đồng chấp nhận thẻ với các điểm bán hàng và dịch vụ trên địa bàn.
Họ cung cấp thiết bị thanh toán thẻ và hướng dẫn cho điểm chấp nhận thẻ về quy trình thanh toán thẻ, quản lý và xử lý các giao dịch thẻ tại các điểm này.