Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NHTM 1. Khái niệm và vai trò của NHTM 1. Khái niệm Theo cuốn “Introduction to Banking”: “Ngân hàng là trung gian tài chính cung ứng các khoản vay, tiền gửi và dịch vụ thanh toán” (Barbara Casu, Claudia Girardone, Philip Molyneux, 2006). Cũng theo nhóm tác giả, các chức năng này tạo thành những đặc điểm đặc trưng của ngân hàng.
Tương tự với quan điểm này, Luật Các Tổ chức tín dụng năm 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) định nghĩa: “Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận.” Trong đó, các hoạt động ngân hàng bao gồm nhận tiền gửi, cấp tín dụng và cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản. Như vậy, có thể hiểu NHTM là loại hình trung gian tài chính thực hiện các hoạt động nhận tiền gửi, cấp tín dụng, cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán và các hoạt động kinh doanh khác nhằm mục tiêu lợi nhuận. Đối với thị trường tài chính: Với vai trò là một trung gian tài chính, NHTM thu hút nguồn vốn từ các chủ thể dư thừa vốn để cung cấp cho các chủ thể thiếu hụt vốn dưới hình thức cho vay, từ đó giúp thúc đẩy sự lưu thông vốn trên thị trường. Thông qua việc chuyển đổi quy mô, kỳ hạn và rủi ro từ các khoản tiền gửi và vốn huy động sang các khoản cho vay, ngân hàng tạo ra hiệu quả vượt trội về chi phí và thời gian giao dịch, đồng thời đáp ứng được nhiều nhu cầu đa dạng mà hình thức tài chính trực tiếp không thể thực hiện được.
Ngoài ra, các thông tin khi giao dịch với ngân hàng đều được công khai chi tiết cho khách hàng, tạo ra tính trung thực và giảm thiểu rủi ro từ sự bất cân xứng thông tin trên thị trường tài chính. Đối với sự phát triển kinh tế - xã hội: Hoạt động trung gian tài chính của ngân hàng có đóng góp to lớn trong việc 6 đưa dòng vốn đến với người cần vốn, giúp thúc đẩy quá trình sản xuất – tiêu dùng, từ đó nâng cao cả tổng cung và tổng cầu cũng như hiệu quả chung của toàn nền kinh tế, tạo ra động lực tăng trưởng cho quốc gia. Đồng thời, với tầm ảnh hưởng sâu rộng tới các hoạt động kinh tế - xã hội, hệ thống các NHTM còn là kênh truyền dẫn quan trọng của Ngân hàng Trung ương và cơ quan Chính phủ trong việc đưa các chính sách điều hành vào thực tiễn thông qua các biện pháp như kiểm soát cung tiền, thay đổi tỷ giá, lãi suất điều hành hay ban hành các chính sách định hướng tín dụng,. từ đó giúp đạt được những mục tiêu nhất định theo từng thời kỳ.
Mặt khác, không thể không nhắc đến vai trò trung gian thanh toán của các NHTM. Hệ thống thanh toán thông qua tài khoản ngân hàng đã và đang đem lại hiệu quả kinh tế rõ rệt về thời gian và chi phí giao dịch so với giao dịch trực tiếp bằng tiền mặt, đặc biệt là với các giao dịch quy mô lớn. Với sự phát triển của công nghệ, hình thức giao dịch online qua Internet Banking ngày càng trở nên phổ biến, giúp khách hàng có thể thực hiện nhiều hoạt động ở mọi lúc mọi nơi, từ việc thanh toán tiền mua hàng, hóa đơn sinh hoạt, nộp thuế điện tử cho đến các giao dịch với ngân hàng như rút tiền gửi, tất toán tài khoản tiết kiệm, nhận tiền vay giải ngân, trả nợ gốc và lãi,. Ngoài ra, sự phát triển của hệ thống thanh toán cũng góp phần thúc đẩy sự phát triển của thị trường tài chính, đặc biệt là thị trường chứng khoán khi mà các giao dịch đều có thể thực hiện trực tuyến trong thời gian ngắn, giúp nhà đầu tư có thể dễ dàng thực hiện việc mua bán chứng khoán.
Không chỉ đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế, hệ thống thanh toán điện tử còn là cơ sở để triển khai thực hiện nền hành chính trực tuyến, giúp cải tiến quy trình, rút ngắn thời gian xử lý các thủ tục, tạo sự thuận tiện cho người dân và doanh nghiệp, thúc đẩy hiệu quả hoạt động chung của toàn xã hội. Đồng thời, hệ thống thanh toán cũng là thành phần quan trọng trong việc xây dựng xã hội số và quốc gia số, không chỉ có ý nghĩa trong nước mà còn đóng vai trò thiết yếu trong các giao dịch quốc tế, kết nối nền kinh tế nội địa với khu vực và thế giới. Về khía cạnh xã hội, hoạt động của các NHTM giúp đáp ứng nhu cầu vay cho sản xuất kinh doanh và tiêu dùng của người dân, tạo điều kiện nâng cao thu nhập và đời sống vật chất tinh thần của họ. Thông qua việc vay ngân hàng, các chủ thể trong 7 xã hội có thể thực hiện được nhiều hoạt động nằm ngoài khả năng tài chính mà không cần chờ đến khi tiết kiệm đủ tiền, đồng thời vẫn đảm bảo khả năng trả nợ phù hợp với thu nhập của họ nhờ việc trả dần khoản nợ gốc và lãi qua nhiều kỳ.
Điều này giúp các cá nhân và doanh nghiệp không bỏ lỡ các cơ hội kinh doanh, mặt khác đáp ứng kịp thời nhu cầu tiêu dùng của người dân, góp phần nâng cao phúc lợi xã hội nói chung. Nguồn vốn của các NHTM còn có vai trò quan trọng trong việc đẩy lùi tội phạm tín dụng đen, cho vay nặng lãi và các hình thức tín dụng không chính thống khác, giữ gìn trật tự an toàn xã hội. Bên cạnh việc cho vay, hoạt động nhận tiền gửi của NHTM tạo ra kênh đầu tư phi rủi ro, giúp hạn chế việc đầu cơ vào các tài sản rủi ro như bất động sản hay các hành vi bất hợp pháp như cá độ và cờ bạc. Các hoạt động kinh doanh chính của NHTM 1.
Cấp tín dụng Nghiệp vụ cấp tín dụng là giao dịch trong đó có sự thỏa thuận giữa ngân hàng và khách hàng (cá nhân hoặc doanh nghiệp) về việc ngân hàng chuyển giao tài sản (tiền hoặc tài sản vật chất như ô tô, máy móc, thiết bị,.) cho khách hàng sử dụng trong một thời gian nhất định, đồng thời khách hàng có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện giá trị tài sản ban đầu cùng với một phần lãi hoặc phí nhất định theo kế hoạch trả nợ được thỏa thuận từ trước. Thu nhập lãi từ các khoản cấp tín dụng là nguồn thu chủ chốt và thường chiếm tỷ lệ cao nhất trong tổng thu nhập của NHTM. Các hình thức cấp tín dụng phổ biến hiện nay bao gồm cho vay, chiết khấu, bao thanh toán, bảo lãnh và cho thuê tài chính. Huy động vốn NHTM nhận tiền gửi của khách hàng theo các kỳ hạn nhất định và hoàn trả toàn bộ số tiền gốc cũng một phần lãi nhất định khi khoản tiền gửi đến hạn; số tiền lãi được tính theo lãi suất huy động tương ứng với kỳ hạn của khoản tiền gửi.
Các khoản tiền gửi là nguồn vốn huy động quan trọng nhất của các NHTM và thường chiếm trên 50% tổng nguồn vốn. Hình thức nhận tiền gửi của các ngân hàng rất đa dạng: tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm, phát hành chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, tín phiếu,. Bên cạnh đó, NHTM còn huy động vốn từ việc vay các TCTD khác, phát hành giấy tờ có giá và cổ phiếu. Cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán Các NHTM mở tài khoản thanh toán cho khách hàng (là tài khoản vãng lai không trả lãi hoặc tài khoản tiền gửi không kỳ hạn) để thực hiện các hoạt động gửi tiền, rút tiền, chuyển tiền giữa các tài khoản và các dịch vụ thanh toán khác như ủy nhiệm chi, ủy nhiệm thu, séc, thư tín dụng,.
theo nhu cầu của khách hàng. Đồng thời, ngân hàng phát hành các loại thẻ như thẻ thanh toán và thẻ tín dụng, cho phép khách hàng thực hiện các giao dịch như rút tiền mặt hay thanh toán ở cả trong nước và quốc tế. Thu nhập từ hệ thống tài khoản và thẻ đến từ các loại phí như phí giao dịch chuyển tiền, phí dịch vụ thanh toán, phí mở thẻ, phí duy trì tài khoản, phí thường niên,. Nguồn thu từ dịch vụ trung gian thanh toán đang có vai trò ngày càng quan trọng trong cơ cấu thu nhập của các ngân hàng do thu nhập từ các loại phí này có hiệu quả trên chi phí bỏ ra cao hơn nhiều so với thu nhập lãi.
Đầu tư tài chính Với vai trò là một chủ thể tham gia thị trường tài chính, các NHTM được thực hiện tất cả các hoạt động đầu tư hợp pháp trên thị trường như những chủ thể khác, bao gồm mua bán chứng khoán (trái phiếu, cổ phiếu, chứng chỉ tiền gửi,.), giao dịch các công cụ phái sinh, góp vốn - mua cổ phần và các hoạt động sinh lời khác. Các dịch vụ tài chính – ngân hàng khác Bên cạnh các hoạt động kinh doanh chủ yếu trên, các NHTM còn cung cấp rất nhiều dịch vụ tài chính – ngân hàng khác như kinh doanh và cung ứng dịch vụ ngoại hối, làm đại lý cho các công ty bảo hiểm, tư vấn tài chính, quản lý và bảo quản tài sản, tư vấn M&A, dịch vụ môi giới tiền tệ,. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh của NHTM 1. Nhóm chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sinh lời Các chỉ tiêu hiệu quả sinh lời cho biết khả năng tạo ra lợi nhuận của ngân hàng ở mức nào.
Với bản chất là những doanh nghiệp đặt mục tiêu lợi nhuận lên hàng đầu, những chỉ tiêu này có tầm quan trọng rất lớn đối với các ngân hàng bởi nó thể hiện kết quả và chất lượng hoạt động kinh doanh, đồng thời ảnh hưởng tới những quyết định chiến lược của ban quản lý cấp cao trong từng thời kỳ. Một số chỉ tiêu 9 chủ yếu trong nhóm này bao gồm: a. Tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên tổng tài sản (ROA) Chỉ tiêu này cho biết cứ 100 đồng tài sản bình quân thì ngân hàng tạo ra được bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế; ROA càng cao chứng tỏ khả năng tạo ra lợi nhuận từ tổng tài sản của ngân hàng càng tốt. Công thức tính: 𝐿ợ𝑖 𝑛ℎ𝑢ậ𝑛 𝑠𝑎𝑢 𝑡ℎ𝑢ế 𝑅𝑂𝐴 = ∗ 100% 𝑇ổ𝑛𝑔 𝑡à𝑖 𝑠ả𝑛 𝑏ì𝑛ℎ 𝑞𝑢â𝑛 b.
Tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên vốn chủ sở hữu (ROE) Chỉ tiêu này cho biết cứ 100 đồng vốn chủ sở hữu bình quân thì ngân hàng tạo ra được bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế. ROE cao thể hiện hoạt động của ngân hàng có hiệu quả tốt trong việc tạo ra lợi nhuận cho các cổ đông.