đặt vấn đề nghiên cứu liên quan đến Hiệu quả hoạt động huy động vốn tiền gửi tại Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam - Chi nhánh Cần Thơ. Đồng thời chương này đưa ra kết cấu tổng thể của luận văn bao gồm 5 chương và mục tiêu, phương pháp nghiên cứu nhằm giải quyết vấn đề đặt ra. 5 CHƯƠNG 2: NGÂN HÀNG TMCP CÔNG THƯƠNG VIỆT NAM – CHI NHÁNH CẦN THƠ VÀ NHỮNG DẤU HIỆU CẢNH BÁO VỀ HẠN CHẾ HIỆU QUẢ HUY ĐỘNG VỐN 2.1 Tổng quan về Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam - Chi nhánh Cần Thơ 2.1 Lịch sử hình thành và phát triển Ngân hàng Thương mại Cổ phần Công thương Chi nhánh Cần Thơ gọi tắt là VietinBank Cần Thơ tiền thân là ngân hàng khu vực thành phố Cần Thơ thuộc ngân hàng Nhà nước, trụ sở ban đầu đặt tại 39-41 Ngô Quyền, Cần Thơ. Đến tháng 7/1988, VietinBank Cần Thơ được chính thức thành lập và có trụ sở đặt tại số 09 Phan Đình Phùng, quận Ninh Kiều, TP Cần Thơ.
Trãi qua 25 năm hình thành và phát triển, VietinBank Cần Thơ đã không ngừng nổ lực vượt qua thử thách, khó khăn để đạt thắng lợi như ngày hôm nay. Trước đây hoạt động của VietinBank Cần Thơ chỉ là huy động nguồn vốn tại chỗ từ các thành phần kinh tế và nhận vốn điều hòa từ Ngân hàng Trung ương, đồng thời cho vay trong lĩnh vực công thương nghiệp, giao thông vận tải, dịch vụ,… Đến năm 1991, VietinBank Cần Thơ mở rộng thêm hoạt động thanh toán quốc tế và kinh doanh ngoại tệ. Hiện tại, VietinBank Cần Thơ đã cung cấp nhiều sản phẩm dịch vụ đa dạng cho khách hàng. Mạng lưới của VietinBank Cần Thơ ngày càng được mở rộng bao gồm 1 hội sở, 08 phòng giao dịch, hệ thống ATM, POS khắp quận huyện TP Cần Thơ.
Ngoài ra, VietinBank Cần Thơ không ngừng đổi mới công nghệ, mô hình hoạt động, xây dựng đội ngũ chuyên ngiệp,… nhằm đảm bảo quản trị rủi ro và hoạt động kinh doanh hiệu quả, luôn hướng tới khách hàng. Tháng 01/2011, VietinBank Cần Thơ chính thức được cấp chứng nhận 9001:2008 về các lĩnh vực: cung cấp dịch vụ cho vay, thanh toán, bảo lãnh nhận tiền gửi, mua bán ngoại tệ và nghiệp vụ thẻ. Như vậy, VietinBank Cần Thơ đã khẳn định và cam kết chất lượng sản phẩm dịch vụ cung cấp cho khách hàng phù hợp với 6 các tiêu chuẩn đã công bố. Đồng thời, VietinBank Cần Thơ sẽ tiếp tục duy trì và cải tiến hệ thống quản trị chất lượng, góp phần gia tăng khả năng cạnh tranh và đáp ứng tối đa nhu cầu của khách hàng cũng như góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh.2 Cơ cấu tổ chức Hình 2.1 Sơ đồ tổ chức của VietinBank Chi nhánh Cần Thơ BAN GIÁM ĐỐC CHI NHÁNH CÁC PHÒNG GIAO DỊCH PHÒNG TỔ CHỨC PHÒNG KHDN AN THỚI NINH KIỀU HÀNH CHÁNH PHÒNG KẾ TOÁN PHÒNG BÁN LẺ NGUYỄN TRÃI QUANG TRUNG PHÒNG TỔNG PHÒNG HỖ TRỢ CÁI RĂNG PHONG ĐIỀN HỢP TÍN DỤNG PHÒNG TIỀN TỆ THẮNG LỢI THỐT NỐT KHO QUỸ (Nguồn: Vietinbank Cần Thơ) Với sự bố trí theo mô hình như sơ đồ hình 2.1 có thể thấy VietinBank Chi nhánh Cần Thơ gồm 1 hội sở chia làm 7 phòng ban phối hợp với nhau cùng làm việc với mục tiêu thúc đẩy kinh doanh và 08 phòng giao dịch có chức năng thực hiện hầu hết các nghiệp vụ huy động, cho vay, bảo lãnh, mua bán ngoại tệ,… 7 2.3 Kết quả hoạt động kinh doanh của Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam - Chi nhánh Cần Thơ giai đoạn 2016-2018 2.1 Những kết quả đạt được Kết quả hoạt động kinh doanh của Vietinbank Cần Thơ giai đoạn 2016 – 2018 được trình bày trong bảng số liệu dưới đây: Bảng 2.1: Tình hình hoạt động kinh doanh Vietinbank Cần Thơ Đơn vị tính: triệu đồng Tăng trưởng Tăng trưởng Số Số Số Chỉ tiêu 2016 2017 Số tuyệt 2018 tương tuyệt tương đối đối đối đối -Dư nợ cho 4.000 8,08% vay -Nguồn vốn 3.000 6,95% huy động -Nợ xấu 16.000 169,45% -Tỷ lệ nợ xấu 0,36% 0,23% 0,58% -Doanh thu 466.000 13,94% dịch vụ (Nguồn: Vietinbank Cần Thơ) * Về dư nợ cho vay: Dư nợ cho vay của Vietinbank Cần Thơ tăng trưởng khá tốt qua các năm.
Cụ thể năm 2017 dư nợ cho vay tăng đến 790.000 triệu đồng, tương đương mức tăng trưởng 17,44%. Đến năm 2018 dư nợ cho vay tiếp tục tăng trưởng 8,08%, mức tăng cụ thể là 430. * Nợ xấu: Nhìn vào số liệu nợ xấu của Vietinbank Cần Thơ có thể kết luận hoạt động tín dụng của ngân hàng khá lành mạnh, tỷ lệ nợ xấu thấp. Tuy nhiên, năm 8 2018 nợ xấu tăng khá mạnh 21.000 triệu đồng tương đương tăng đến 169,45% so với năm trước đó.
Nếu nợ xấu tiếp tục tăng trong thời gian tới sẽ ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động của ngân hàng. * Về nguồn vốn huy động: Nguồn vốn huy động của Vietinbank Cần Thơ tăng trưởng chậm hơn so với dư nợ cho vay. Tốc độ tăng trưởng năm 2017 là 5,58%, còn năm 2018 là 6,95%. Chênh lệch quy mô nguồn vốn và dư nợ của Vietinbank qua các năm ngày càng tăng.
Cụ thể năm 2016 chênh lệch quy mô là 590.000 triệu đồng, đến năm 2017 con số này đã lên đến 1. Đặc biệt quy mô huy động vốn đến năm 2018 đạt 4.000 triệu đồng, thấp hơn đến 1,301,000 triệu đồng so với quy mô tổng dư nợ cho vay. * Về doanh thu: Doanh thu của Vietinbank Cần Thơ qua các năm đều tăng trưởng. Trong đó tăng nhanh nhất vào năm 2017 với tốc độ tăng trưởng đạt 66,18% so với năm trước đó.
Đến năm 2018 doanh thu của ngân hàng tiếp tục tăng nhưng với tốc độ tăng thấp hơn so với năm trước, chỉ đạt 10,23%. * Về chi phí: Qua các năm tốc độ tăng trưởng của chi phí luôn cao hơn so với tốc độ tăng của doanh thu. Cụ thể năm 2017, chi phí tăng đến 103,36% so với năm trước đó. Đến năm 2018 tốc độ tăng của chi phí giảm xuống còn 11,70% nhưng vẫn cao hơn so với tốc độ tăng trưởng của doanh thu là 10,23%.
* Về lợi nhuận: do chi phí tăng nhanh hơn doanh thu đã làm ảnh hưởng đến lợi nhuận kinh doanh của ngân hàng. Trong giai đoạn 2016 – 2018, lợi nhuận năm 2016 đạt mức cao nhất, lên đến 135.250 triệu đồng, tương đương với tỷ suất sinh lời trên doanh thu 29,02%. Tuy nhiên, đến năm 2017 lợi nhuận sut giảm lớn đến 33.500 triệu đồng, tương đương với mức giảm -24,77%, chỉ đạt 101.750 triệu đồng, tương đương tỷ suất sinh lời 13,14%. Năm 2018 lợi nhuận hầu như không tăng trưởng, chỉ đạt 102.250 triệu đồng, tương đương tỷ suất sinh lời 11,98%.
Như vậy, qua các năm dù các chỉ tiêu nguồn vốn và dư nợ đều tăng trưởng nhưng tỷ suất sinh lời trên doanh thu của ngân hàng chưa được cải thiện. * Về thu phí dịch vụ: tốc độ tăng trưởng chỉ tiêu phí dịch của ngân hàng qua các năm khá tốt, tuy nhiên xét về mức độ tăng tuyệt đối thì vẫn chưa có nhiều cải 9 thiện. Cụ thể năm 2017 phí dịch vụ tăng 5.000 triệu đồng, tương đương tăng 32,18% so với năm 2016. Đến năm 2018 phí dịch vụ tiếp tục tăng nhưng chỉ tăng 3.000 triệu đồng, tốc độ tăng trưởng 13,94% so với năm 2017.2 Hạn chế và nguyên nhân Sơ lược tình hình hoạt động kinh doanh của Vietinbank Cần Thơ giai đoạn 2016 – 2018 còn tồn tại một số hạn chế.
Thứ nhất, quy mô nguồn vốn huy động dù tăng trưởng qua các năm nhưng tốc độ tăng chậm hơn so với dư nợ vay. Điều này khiến cho chênh lệch nguồn vốn huy động và dư nợ cho vay ngày càng cao. Hay nói cách khác nguồn vốn huy động của Vietinbank Cần Thơ qua các năm chưa đáp ứng được nhu cầu sử dụng vốn của ngân hàng và tình trạng này ngày càng nghiêm trọng hơn. Như vậy, những năm qua Vietinbank Cần Thơ phải phụ thuộc khá nhiều vào nguồn vốn điều chuyển từ trụ sở chính dẫn đến chi phí tăng cao.
Thứ hai, dù quy mô nguồn vốn và dư nợ cho vay và doanh thu của Vietinbank Cần Thơ không ngừng tăng trưởng nhưng chỉ tiêu lợi nhuận vẫn chưa có cải thiện qua các năm. Chi phí của ngân hàng luôn tăng trưởng cao hơn nhiều so với tốc độ tăng của doanh thu, nguồn vốn huy động không đủ đáp ứng nhu cầu cho vay mà phải phụ thuộc vào vốn điều chuyển, thu nhập từ hoạt động dịch vụ còn khá thấp so với quy mô của ngân hàng. Đây chính là những nguyên nhân ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận của ngân hàng. Cuối cùng, với sự tăng trưởng của hoạt động tín dụng thì nợ xấu của ngân hàng cũng đang có dấu hiệu tăng nhanh.
Thời gian tới nếu ngân hàng tiếp tục chú trọng tăng trưởng tín dụng sẽ tiềm ẩn nguy cơ rủi ro, ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động kinh doanh.2 Những dấu hiệu cảnh báo về các hạn chế hiệu quả huy động vốn tiền gửi của ngân hàng Sơ lược tình hình hoạt động kinh doanh của Vietinbank Cần Thơ giai đoạn 2016 – 2018, bên cạnh những kết quả đạt được cũng như khó khăn hạn chế, có thể 10 nhận định một số dấu hiệu cảnh báo về các hạn chế hiệu quả huy động vốn tiền gửi của ngân hàng, cụ thể như sau: Thứ nhất, tỷ trọng nguồn huy động vốn và sử dụng vốn không hợp lý. Khi nguồn vốn huy động không đáp ứng được nhu cầu sử dụng vốn thì Ngân hàng bắt buộc phải phụ thuộc vào vốn điều chuyển có chi phí cao hơn hẳn. Chính điều này sẽ hạn chế hiệu quả công tác huy động vốn, đồng thời tác động lớn đến hiệu quả kinh doanh của Ngân hàng. Thứ hai, bên cạnh hạn chế về quy mô cần xem xét đến cơ cấu nguồn vốn trong tương quan cơ cấu nguồn sử dụng vốn.
Nếu vốn ngắn hạn chiếm tỷ trọng cao hơn vốn trung và dài hạn trong khi nguồn sử dụng vốn có cơ cấu ngược lại sẽ dẫn đến mất cân đối. Do các khoản vay trung dài hạn có giá trị lớn, thời gian thu hồi vốn lâu nên khi được tài trợ bằng nguồn vốn huy động ngắn hạn cũng ảnh hưởng đến sự chủ động của Ngân hàng. Tuy nhiên, nếu nguồn vốn huy động trung dài hạn chiếm tỷ trọng cao trong khi dư nợ cho vay chủ yếu ở kì hạn ngắn cũng sẽ phát sinh chi phí. Nguyên nhân là dư nợ cho vay ngắn hạn có lãi suất cho vay thấp trong khi nguồn vốn trung và dài hạn dù ổn định nhưng lãi suất huy động rất cao.
Như vậy, cơ cấu nguồn vốn và nguồn sử dụng vốn phải có sự tính toán kỹ càng đảm bảo được tính ổn định và đem lại hiệu quả cao nhất cho Ngân hàng.