Chương 1: Những vấn đề cơ bản về hiệu quả huy động vốn của hệ thống ngân hàng thương mại Chương 2: Thực trạng hiệu quả huy động vốn tại Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn chi nhánh huyện Yên Sơn Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả huy động vốn tại Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn chi nhánh huyện Yên Sơn 9 CHƢƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HIỆU QUẢ HUY ĐỘNG VỐN CỦA HỆ THỐNG NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Huy động vốn NHTM hái quát về ngân hàng thƣơng mại 1. NHTM và các hoạt động cơ bản của NHTM. Khái niệm, chức năng, vai trò của Ngân hàng thương mại Có nhiều khái niệm về NHTM, một số nước tư bản như Mỹ, Nhật.
NHTM được định nghĩa như một tổ chức mà hoạt động kinh doanh chủ yếu của nó là huy động vốn từ tiền gửi của cá nhân và đơn vị kinh doanh (các công ty) và để cho vay lại các đối tượng đó. Nhưng theo quan điểm của Luật các tổ chức tín dụng Việt Nam số 47/2010/QH12 ngày 16/6/2014 của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam thì “Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận. Cụ thể “NHTM là một loại hình tổ chức tín dụng (TCTD) được phép thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động khác có liên quan như: nhận tiền gửi, cấp cho vay và cung ứng các dịch vụ thanh toán cho toàn bộ nền kinh tế. Trên cơ sở dựa trên các hoạt động chủ yếu, NHTM được hiểu là “Loại hình doanh nghiệp được thành lập theo các quy định của pháp luật, thực hiện kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung thường xuyên nhận tiền gửi, sử dụng số tiền này để cấp cho vay và cung ứng các dịch vụ thanh toán; thực hiện các hoạt động kinh doanh khác có liên quan”.
Huy động vốn Huy động vốn là các hoạt động của pháp nhân thương mại để tạo vốn cho hoạt động kinh doanh của mình dưới các hình thức như: Vay vốn, huy động vốn, phát hành, chào bán chứng khoán, liên doanh, liên kết trong và ngoài nước; hình thành quỹ tín thác bất động sản. Các hoạt động chủ yếu của ngân hàng thương mại 1. Huy động vốn Ngân hàng kinh doanh tiền tệ dưới hình thức huy động, cho vay, đầu tư và cung cấp các dịch vụ khác. Huy động vốn - hoạt động tạo nguồn vốn cho NHTM - đóng vai trò quan trọng, ảnh hưởng tới chất lượng hoạt động của ngân hàng.
Ngân 10 hàng huy động vốn nhằm thực hiện cho vay và thực hiện các dịch vụ ngân hàng. Ngân hàng huy động các nguồn vốn khác nhau (tài sản nợ) bao gồm: những khoản mà nhân dân gửi vào, những khoản ngân hàng đi vay các đối tượng khác trong nền kinh tế như NHTW, các ngân hàng hay các tổ chức tài chính khác, vay trên thị trường vốn, thị trường tiền tệ… Đặc điểm của tiền gửi là chúng phải được thanh toán khi khách hàng yêu cầu ngay cả khi đó là tiền gửi có kỳ hạn chưa đến hạn thanh toán. Quy mô tiền gửi rất lớn so với các nguồn khác. Thông thường, nguồn này chiếm hơn 50% tổng nguồn vốn và là mục tiêu tăng trưởng hàng năm của các ngân hàng.
Tiền gửi là đối tượng phải dự trữ bắt buộc, do vậy chi phí tiền gửi thường cao hơn lãi trả cho tiền gửi. Bên cạnh đó, tiền vay chiếm tỷ trọng thấp hơn trong tổng nguồn và có vai trò quan trọng. Các khoản vay thường có thời hạn và quy mô xác định trước, do vậy tạo thành nguồn ổn định cho ngân hàng. Khác với nhận tiền gửi, ngân hàng không nhất thiết phải đi vay thường xuyên: Ngân hàng chỉ đi vay lúc cần thiết; ngân hàng hoàn toàn chủ động quyết định số lượng vay phù hợp với nhu cầu sử dụng.
Nguồn vay có thể không phải chịu dự trữ bắt buộc. Cho vay Cho vay là hoạt động chiếm tỷ trọng lớn nhất ở phần lớn các NHTM, phản ánh hoạt động đặc trưng của ngân hàng. Trong hoạt động cho vay, mục tiêu chủ yếu của ngân hàng là kiếm được lợi nhuận, trên cơ sở phục vụ các nhu cầu cho vay của cộng đồng. Ngân hàng cung cấp cho các đối tác những điều kiện cần thiết để họ thực hiện các hoạt động theo mục tiêu của họ và trên cơ sở đó tìm kiếm thu nhập.
Đối tác của Ngân hàng có thể là: các doanh nghiệp, các hộ gia đình, Chính phủ…có nhu cầu sẽ nhận được sự tài trợ của ngân hàng nếu đáp ứng được đầy đủ các yêu cầu của ngân hàng. Mối quan hệ giữa NHTM, người gửi tiền và người đi vay đều dựa vào lòng tin của nhau để giải quyết tình trạng thừa hay thiếu vốn của các chủ thể nêu trên. Các hình thức tài trợ: cho vay thương mại, cho vay tiêu dùng, tài trợ cho các dự án… Cho vay thương mại: Ngân hàng có thể thực hiện chiết khấu thương phiếu mà thực tế là cho vay đối với người bán hoặc cho vay trực tiếp đối với khách hàng là người mua. 11 Cho vay tiêu dùng: sự gia tăng thu nhập của người tiêu dùng và sự cạnh tranh trong cho vay đã hướng các ngân hàng tới người tiêu dùng như là khách hàng tiềm năng.
Tài trợ cho các dự án: Bên cạnh việc cho vay ngắn hạn, ngân hàng ngày càng trở nên năng động trong việc tài trợ trung, dài hạn. Tài trợ xây dựng nhà máy, phát triển công nghệ cao, cho vay bất động sản… 1. Các hoạt động khác - Cung cấp các tài khoản giao dịch và thực hiện thanh toán: các tiện ích của thanh toán không dùng tiền mặt (an toàn, nhanh chóng, chính xác, tiết kiệm chi phí) đã góp phần rút ngắn thời gian kinh doanh và nâng cao thu nhập cho khách hàng. - Cung cấp dịch vụ uỷ thác và tư vấn: các cá nhân và doanh nghiệp nhờ Ngân hàng quản lý tài sản và quản lý hoạt động tài chính hộ, tư vấn đầu tư, quản lý tài chính, thành lập, mua bán, sát nhập doanh nghiệp.
- Dịch vụ bảo lãnh: Ngân hàng bảo lãnh cho khách hàng của mình mua chịu hàng hoá trang thiết bị, phát hành chứng khoán, vay vốn của các tổ chức cho vay khác. - Cho thuê tài chính: nhằm đáp ứng nhu cầu thuê dài, tài sản thuê có giá trị lớn, ngân hàng cho khách hàng thuê các thiết bị, máy móc cần thiết thông qua hợp đồng thuê mua. - Ngoài ra, ngân hàng còn thực hiện các dịch vụ khác như: Cung cấp dịch vụ môi giới đầu tư chứng khoán, dịch vụ bảo hiểm, bảo quản tài sản hộ… 1. Hiệu quả huy động vốn của ngân hàng thƣơng mại 1.
Huy động vốn của NHTM 1. Khái niệm về vốn, huy động vốn Có rất nhiều quan điểm khác nhau khi nói về vốn, vậy vốn là gì? “Vốn là tư bản mang lại giá trị thặng dư , từ quan điểm đó ta thấy sự cần thiết của vốn trong nền kinh tế: thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế xây dựng và phát triền cơ sở hạ tầng, thúc đẩy chuyển giao công nghệ, đáp ứng mọi yêu cầu cải tạo, đầu tư, đổi mới trong mọi lĩnh vực. Huy động vốn là các hoạt động của Ngân hàng thương mại để tạo vốn cho hoạt động kinh doanh của mình dưới các hình thức như: Vay vốn, huy động vốn, 12 phát hành, chào bán chứng khoán, liên doanh, liên kết trong và ngoài nước. Vai trò của vốn trong hoạt động kinh tế NHTM Sản phẩm của các NHTM là “tiền , các Ngân hàng kinh doanh tiền tệ nên chức năng chủ yếu của Ngân hàng là “huy động để cho vay đây là nghiệp vụ mang lại phần lớn lợi nhuận của NHTM, do đó vốn là cần thiết giúp các NHTM chủ động trong việc cho vay và đầu tư.
Khi một Ngân hàng có nguồn vốn dồi dào, ổn định cũng giúp cho khả năng đa dạng hóa loại hình dịch vụ của mình. Vốn của một NHTM cũng tác động vào yếu tố tâm lý khách hàng, tạo ra uy tín Ngân hàng trên thị trường. Vốn quyết định năng lực cạnh tranh của Ngân hàng, quy mô, phương tiện hiện đại là tiền đề thuận lợi để Ngân hàng mở rộng quan hệ cho vay, kinh doanh, đa dạng, phân tán rủi ro. Như vậy vốn có vai trò to lớn đối với sự nghiệp tăng trường và phát triển kinh tế, là nhân tố đóng vai trò quyết định cho sự nghiệp Công nghiệp hóa, Hiện đại hóa đất nước.
Đối với các NHTM vốn có vai trò nền tảng quyết định đến hoạt động kinh doanh của Ngân hàng. Để có thể huy động tối đa các nguồn vốn và chiếm được tỷ trọng huy động vốn cao trên thị trường khi lựa chọn hình thức huy động các Ngân hàng nên chú ý đến một số nguyên tắc sau. Nguyên tắc khi tiến hành huy động vốn Các NHTM muốn đạt mục tiêu lợi nhuận phải lựa chọn các nguồn vốn đảm bảo: + An toàn + Chi phí thấp + Tăng khả năng sinh lời Mỗi NHTM trong hoạt động kinh doanh đều gặp khó khăn phải đối mặt với rủi ro. Rủi ro trong Ngân hàng là rất lớn khác hẳn so với các ngành nghề khác, đặt ra cho những người làm Ngân hàng phải có những biện pháp hạn chế rủi ro.
Vốn của Ngân hàng 70% là của xã hội, mối quan hệ trong Ngân hàng hết sức đa dạng trong lòng thị trường, sản phẩm mang tính xã hội hóa và tính cộng đồng cao, sự đổ vỡ của ngân hàng không chỉ mình ngân hàng phải gánh chịu mà nó gây phản ứng dây truyền tạo ra hậu quả nghiệm trọng cho xã hội. Do vậy, trong quá 13 trình huy động vốn mọi NHTM phải đảm bảo tìm kiếm vùng an toàn. Về mặt nguyên tắc những nguồn vốn dài hạn sẽ được đầu tư vào những tài sản dài hạn tuy nhiên trong thực tế NHTM phải tính tới yếu tố vòng quay của vốn, tức là có thể hoán đổi kỳ hạn dùng nguồn vốn ngắn hạn để tài trợ cho tài sản dài hạn. Để đảm bảo an toàn, tránh tình trạng mất khả năng thanh toán các NHTM phải làm cân bằng kỳ hạn đến hạn của tài sản và kỳ hạn đến hạn của nguồn vốn, tuy nhiên trong thực tế dù kỳ hạn đến hạn của tài sản bằng kỳ hạn đến hạn của nguồn vốn, NHTM vẫn phải chịu thiệt hại do lãi suất thay đổi, nếu như phương thức thanh toán gốc và lãi khác nhau.
Các NHTM cũng nên xem xét độ nhạy cảm của lãi suất đối với các khoản mục vốn và tài sản.