Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG TRONG LĨNH VỰC NÔNG NGHIỆP TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Khái quát về tín dụng trong lĩnh vực nông nghiệp tại NHTM 1. Khái niệm nông nghiệp, nông thôn Nông nghiệp là ngành sản xuất ra của cải vật chất mà con người phải dựa vào quy luật sinh trưởng của cây trồng, vật nuôi để tạo ra sản phẩm như lương thực, thực phẩm,. để thỏa mãn các nhu cầu của mình.
Nông nghiệp theo nghĩa rộng bao gồm cả lâm nghiệp và ngư nghiệp. Như vậy, nông nghiệp là ngành sản xuất phụ thuộc rất nhiều vào tự nhiên. Những điều kiện tự nhiên như đất đai, nhiệt độ, độ ẩm, lượng mưa,. trực tiếp ảnh hưởng đến năng suất, sản lượng cây trồng, vật nuôi.
Ở các nước nghèo nông nghiệp thường chiếm tỷ trọng rất lớn trong GDP và thu hút một lượng lớn lao động. Hiện nay trên thế giới vẫn chưa có định nghĩa chuẩn xác về nông thôn, còn nhiều quan điểm khác nhau. Có quan điểm cho rằng cần dựa vào chỉ tiêu trình độ phát triển của cơ cở hạ tầng. Quan điểm khác lại cho rằng nên dựa vào chỉ tiêu trình độ tiếp cận thị trường, phát triển hàng hóa để xác định vùng nông thôn vì cho rằng nông thôn có trình độ sản xuất hàng hóa và khả năng tiếp cận thị trường so với đô thị là thấp hơn.
Cũng có ý kiến nên dùng chỉ tiêu mật độ dân cư và số lượng dân cư trong vùng để xác định. Theo quan điểm này, vùng nông thôn thường có số dân và mật độ dân thấp hơn vùng thành thị. Như vậy, khái niệm về nông thôn chỉ có tính chất tương đối, thay đổi theo thời gian và theo tiến trình phát triển kinh tế, xã hội của các quốc gia trên thế giới. Trong điều kiện hiện nay ở Việt Nam, nhìn nhận dưới góc độ quản lý.
Nông thôn là khu vực địa giới hành chính không bao gồm địa bàn của e 7 phường, quận thuộc thị xã, thành phố. Khái niệm tín dụng ngân hàng Quan hệ tín dụng ra đời và tồn tại đòi hỏi khách quan của quá trình tuần hoàn vốn để giải quyết hiện tượng dư thừa thiếu hụt vốn diễn ra thường xuyên giữa các chủ thể trong nền kinh tế. Một cách khác, tín dụng (credit) là sự chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị (tài sản) từ người sở hữu sang người sử dụng trong một khoản thời gian nhất định; khi đến hạn, người sử dụng phải hoàn trả một lượng giá trị lớn hơn ban đầu. Như vậy, phạm trù tín dụng có ba nội dung chính là: tính chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị, tính thời hạn và tính hoàn trả.
Tín dụng có nhiều loại như: tín dụng nhà nước, tín dụng doanh nghiệp, tín dụng cá nhân và tín dụng ngân hàng. Trong đó tín dụng ngân hàng là quan hệ chuyển nhượng tài sản (vốn) giữa ngân hàng với các chủ thể khác trong nền kinh tế; trong mối quan hệ này ngân hàng vừa giữ vai trò là người đi vay (con nợ) vừa vai trò là người cho vay (chủ nợ). Đây là quan hệ tín dụng gián tiếp mà người tiết kiệm, thông qua vai trò trung gian của ngân hàng, thực hiện đầu tư vốn vào các chủ thể có nhu cầu về vốn trong nền kinh tế. Từ phân tích trên ta đi đến khái niệm: tín dụng ngân hàng là việc ngân hàng thoả thuận để khách hàng sử dụng một tài sản (bằng tiền, tài sản thực hay uy tín) với nguyên tắc có hoàn trả bằng các nghiệp vụ cho vay, chiết khấu (tái chiết khấu), cho thuê tài chính, bão lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ khác.
Có ba loại quan hệ chủ yếu trong quan hệ tín dụng ngân hàng, bao gồm: - Quan hệ tín dụng giữa ngân hàng với doanh nghiệp. - Quan hệ tín dụng giữa ngân hàng với dân cư. - Quan hệ tín dụng giữa ngân hàng với các ngân hàng khác. Ngày nay, tín dụng ngân hàng đã và đang là nhân tố thúc đẩy lực lượng e 8 sản xuất phát triển, điều tiết và di chuyển vốn, tăng thêm tính hiệu quả của vốn tiền tệ trong nền kinh tế thị trường.
Chính nhờ có tín dụng ngân hàng mà những đồng tiền tạm thời nhàn rỗi đã trở thành tiền hoạt động, biến những đồng tiền phân tán thành nguồn vốn tập trung phục vụ cho nhu cầu kinh doanh. Qua đó thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh giúp cho nền kinh tế ngày càng tăng trưởng và phát triển. Tín dụng nói chung được định nghĩa là quan hệ kinh tế trong đó có sự chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị (dưới hình thức giá trị hoặc hiện vật) từ người ở hữu sang người sử dụng để sau một thời gian nhất định thu hồi về một lượng giá trị lớn hơn giá trị ban đầu. Nếu xem xét ở gốc độ hẹp hơn, “Tín dụng ngân hàng là một giao dịch về tài sản (tiền hoặc hàng hoá) giữa ngân hàng và bên đi vay (cá nhân, doanh nghiệp và các chủ thể khác, trong đó ngân hàng chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời gian nhất định theo thoả thuận, bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện vốn gốc và lãi cho ngân hàng khi đến hạn thanh toán”.
Tô Ngọc Hưng (2014). Theo Luật Các tổ chức tín dụng (2010), Cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác. Khái niệm tín dụng ngân hàng trong lĩnh vực nông nghiệp Từ các khái niệm trên, có thể đưa ra khái niệm về tín dụng ngân hàng trong lĩnh vực nông nghiệp: là việc ngân hàng thoả thuận để khách hàng hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp sử dụng một tài sản (bằng tiền, tài sản thực hay uy tín) với nguyên tắc có hoàn trả bằng các nghiệp vụ cho vay, chiết khấu (tái chiết khấu), cho thuê tài chính, bão lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ e 9 khác. Lĩnh vực nông nghiệp được định nghĩa theo Quyết định số 10/2007/QĐ-TTg ngày 23/01/2007 của Thủ tướng chính phủ ban hành hệ thống ngành kinh tế của Việt Nam.
Theo quyết định này, lĩnh vực nông nghiệp được xác định bao gồm: trồng trọt, chăn nuôi và hoạt động dịch vụ có liên quan. Đặc trưng của tín dụng trong lĩnh vực nông nghiệp tại NHTM Các ngân hàng thương mại cấp tín dụng cho nhiều đối tượng khách hàng khác nhau hoặc cho nhiều lĩnh vực khác nhau. Mỗi đối tượng khách hàng, hay lĩnh vực đều có đặc điểm riêng. Riêng đối với lĩnh vực nông nghiệp ở Việt Nam, có những đặc trưng chủ yếu sau: Một là, sản xuất nông nghiệp ở nước ta vẫn còn manh mún, quy mô sản xuất nhỏ; việc tích tụ ruộng đất còn nhiều hạn chế.
Điều này cản trở đến việc hình thành các mô hình liên kết, ứng dụng khoa học - công nghệ hiện đại trong sản xuất nông nghiệp. Hai là, vấn đề quy hoạch, kế hoạch và dự báo cung cầu đối với sản phẩm nông nghiệp trên thị trường còn nhiều khó khăn; tình trạng “được mùa mất giá, được giá mất mùa” vẫn thường xuyên xảy ra, ảnh hưởng đến thu nhập của người nông dân và các hộ sản xuất hoạt động trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp. Sản phẩm đầu ra của người nông dân còn phụ thuộc nhiều vào giá cả thị trường, thu nhập không ổn định. Ba là, tín dụng đối với lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn luôn tiềm ẩn nhiều rủi ro do thiên tai, dịch bệnh, thị trường sản phẩm không ổn định, trong khi vẫn thiếu các công cụ phòng ngừa và hạn chế rủi ro.
Hoạt động bảo hiểm nông nghiệp tuy đã được triển khai nhưng vẫn chưa được nhân rộng. Bốn là, năng lực sản xuất, khả năng tài chính hạn chế cũng là yếu tố ảnh hưởng lớn đến khả năng tiếp cận nguồn vốn tín dụng của các hộ nông e 10 dân, hợp tác xã và các DN. Khu vực kinh tế hợp tác, mà nòng cốt là các hợp tác xã, hầu hết có quy mô hoạt động nhỏ, vốn điều lệ thấp, trình độ nhân lực, tài chính, quản trị, điều hành còn hạn chế và thiếu phương án sản xuất, kinh doanh khả thi. Năm là, vai trò của các hợp tác xã, DN tại địa phương trong việc phát triển kinh tế còn hạn chế, tính liên kết trong sản xuất nông nghiệp còn thiếu chặt chẽ, chưa có nhiều mô hình sản xuất liên kết, ứng dụng công nghệ cao có hiệu quả, dẫn đến các tổ chức tín dụng khó khăn trong việc kiểm soát dòng tiền của khách hàng, gây ảnh hưởng đến chất lượng và hiệu quả đầu tư của các tổ chức tín dụng.
Sáu là, tài sản hình thành từ các dự án trên đất nông nghiệp phục vụ cho chính hoạt động sản xuất nông nghiệp (nhà kính, ao nuôi.) có giá trị đầu tư lớn nhưng không được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu tài sản trên đất, gây khó khăn cho hộ nông dân, DN và ngân hàng trong việc định giá và nhận thế chấp tài sản bảo đảm cho khoản vay. Phân loại tín dụng ngân hàng Tín dụng ngân hàng (sau đây gọi tắt là tín dụng) có thể phân thành nhiều loại khác nhau tùy theo các tiêu thức phân loại khác nhau: Dựa vào mục đích vay vốn của khách hàng, theo tiêu thức này tín dụng ngân hàng có thể phân chia thành các loại như sau: + Tín dụng phục vụ nhu cầu đời sống là việc tổ chức tín dụng cung cấp tín dụng đối với khách hàng là cá nhân để thanh toán các chi phí cho mục đích tiêu dùng, sinh hoạt của cá nhân đó, gia đình của cá nhân đó. Ví dụ như: Cho vay tiêu dùng, cho vay du học, cho vay mua xe ôtô… + Tín dụng phục vụ hoạt động kinh doanh, hoạt động khác (sau đây gọi là hoạt động kinh doanh) là việc tổ chức tín dụng cấp tín dụng đối với khách hàng là pháp nhân, cá nhân nhằm đáp ứng nhu cầu vốn ngoài các hoạt động e 11 tín dụng nêu trên, bao gồm nhu cầu vốn của pháp nhân, cá nhân đó vào nhu cầu vốn của hộ kinh doanh, doanh nghiệp tư nhân mà cá nhân đó là chủ hộ kinh doanh, chủ doanh nghiệp tư nhân. Dựa vào thời hạn tín dụng, theo tiêu thức này tín dụng ngân hàng có thể phân chia thành các loại như sau: + Tín dụng ngắn hạn: là hình thức tín dụng có thời hạn tối đa 01 năm.
Mục đích của tín dụng này là thường tài trợ cho việc đầu tư vào tài sản lưu động.