Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HỢP ĐỒNG MUA BÁN NỢ CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Khái quát về hợp đồng mua bán nợ của Ngân hàng Thƣơng mại 1. Khái niệm Tại Điều 1378 BLDS Québec (Canada) 1994 định nghĩa: “Hợp đồng là một sự thỏa thuận của các ý chí mà bởi nó một hoặc một số người tự ràng buộc mình với một hoặc một số người khác để thực hiện một cam kết” [9, tr. Điều 1101 BLDS Pháp năm 1804 quy định: “Hợp đồng là sự thỏa thuận theo đó một hoặc nhiều người cam kết với một hoặc nhiều người khác chuyển giao một vật, làm hoặc không làm một điều nào đó” [9, tr.
Còn tại Điều 388 BLDS Việt Nam năm 2005 định nghĩa: “Hợp đồng dân sự là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự”. Với định nghĩa này, BLDS đã gắn thêm chữ “dân sự” vào trƣớc thuật ngữ “hợp đồng”, có thể đƣợc hiểu là tất cả hợp đồng đƣợc điều chỉnh bởi luật tƣ?. “Sự thỏa thuận có mục đích xác lập, thay đổi hay chấm dứt quyền lợi được gọi là hợp đồng” [9, tr. Qua một số định nghĩa trên về hợp đồng, có thể thấy hai vấn đề, một là có sự thỏa thuận của các bên, hai là đều tạo ra một hậu quả pháp lý.
Hậu quả pháp lý đƣợc hiểu là việc làm phát sinh, thay đổi hay chấm dứt một quyền lợi hoặc một quan hệ pháp luật hoặc quyền và nghĩa vụ giữa các bên [9, tr. Vậy, Hợp đồng là sự thỏa thuận nhằm phát sinh ra quan hệ pháp luật hay hậu quả pháp lý. Xét về hợp đồng mua bán nợ thì đối tƣợng đƣợc chuyển giao trong hợp đồng này là quyền của chủ nợ yêu cầu bên mua nợ thanh toán một khoản nợ (quyền đòi nợ). Quyền đòi nợ đƣợc phép chuyển giao theo quy định của pháp luật về chuyển giao quyền yêu cầu.
Dƣới góc độ pháp luật về tài sản, quyền đòi nợ là một loại quyền tài sản [34, Điều 322] và quyền tài sản lại là một trong bốn loại tài sản theo quy định hiện 7 z hành [34, Điều 163]. Nhƣ vậy, có thể hiểu quyền đòi nợ tự thân nó là một tài sản. Quyền đòi nợ là một tài sản đặc biệt, tài sản này ở dạng vô hình hay nó là một dạng của quyền tài sản. Dƣới góc độ kế toán, quyền đòi nợ là một “khoản phải thu”, có thể hiểu là số tiền khách hàng nợ doanh nghiệp do mua chịu hàng hóa hoặc dịch vụ.
Đối với ngân hàng thì đó là khoản phải thu từ hợp đồng cấp tín dụng giữa ngân hàng với khách hàng. Dƣới góc độ của pháp luật nghĩa vụ thì quyền đòi nợ là một dạng của quyền yêu cầu và đƣợc chuyển giao, đƣợc quy định tại các điều từ Điều 309 đến Điều 314 của BLDS 2005. Đó là quyền yêu cầu bên có nghĩa vụ phải thực hiện một công việc, cụ thể phải thanh toán một khoản tiền cho bên có quyền tại một thời điểm do các bên thỏa thuận trong hợp đồng. Hợp đồng mua bán nợ hay giao dịch mua bán nợ là hoạt động kinh tế để trao đổi và chuyển nhƣợng phần tài sản đặc biệt là các “khoản nợ phải thu” từ đối tƣợng này sang đối tƣợng khác.
Thông qua việc chuyển nhƣợng lại “quyền thu hồi nợ” từ “khoản nợ phải thu” của bên Bán nợ (chủ nợ) đối với Con nợ sang cho bên Mua nợ, bên Mua nợ sẽ trở thành chủ nợ mới của bên Con nợ. Nhƣ vậy, hoạt động mua bán nợ đƣợc thực hiện đối với các khoản nợ phải thu (của bên chủ nợ) mà không phải là nợ phải trả (của bên con nợ). Xét trong giao dịch mua bán nợ của các NHTM luôn có sự tham gia của các ngân hàng, có thể với tƣ cách là bên bán nợ hoặc là bên mua nợ. Khoản nợ đƣợc mua, bán đƣợc hình thành từ hoạt động cấp tín dụng của ngân hàng.
Điều này phân biệt với khoản nợ phát sinh từ các hoạt động thƣơng mại khác, nhƣ các khoản nợ hình thành từ hợp đồng mua bán hàng hóa…Do đó, giao dịch mua bán nợ của ngân hàng sẽ có sự phân biệt với những giao dịch mua bán nợ khác. Có thể so sánh với hoạt động bao thanh toán của ngân hàng, đây là một trong những hình thức giao dịch liên quan đến các khoản phải thu, nhƣng khoản phải thu này có nguồn gốc từ hợp đồng mua bán hàng hóa. Hoạt động này có sự khác biệt đối với giao dịch mua bán nợ, có thể xem xét dƣới một số khía cạnh sau: 8 z Tiêu chí Giao dịch mua bán nợ Hoạt động bao thanh toán Mua, bán nợ là việc chuyển Bao thanh toán là một hình thức nhƣợng khoản nợ, theo đó, bên cấp tín dụng của TCTD cho bên bán nợ chuyển giao quyền chủ nợ bán hàng thông qua việc mua lại Khái của khoản nợ cho bên mua nợ và các khoản phải thu phát sinh từ việc niệm nhận thanh toán từ bên mua nợ mua, bán hàng hoá đã đƣợc bên bán hàng và bên mua hàng thoả thuận trong hợp đồng mua bán hàng Là một hoạt động của ngân hàng Là một hình thức cấp tín dụng Bản chất nhằm xử lý nợ tồn đọng trong hệ thống. Không phải là một hình thức cấp tín dụng Bên bán nợ: các ngân hàng Bên bao thanh toán: Là TCTD Bên mua nợ: các tổ chức, cá nhân đƣợc cấp phép để tiến hành cấp tín có nhu cầu dụng cho khách hàng của mình Chủ thể dƣới hình thức mua lại các khoản tham gia phải thu thƣơng mại.
Bên đƣợc bao thanh toán: Là bên bán hàng có khoản phải thu phát sinh và đƣợc thỏa thuận theo hợp đồng mua bán hàng hóa, dịch vụ. Đối Khoản nợ do ngân hàng cho Khoản nợ hình thành từ việc mua, tƣợng khách hàng vay bán hàng hoá. Đây là các khoản hợp phải thu thƣơng mại đồng Hợp đồng tín dụng giữa ngân Hợp đồng mua bán hàng hóa, cung Giao hàng và khách hàng. Hình thành cấp dịch vụ giữa bên bán hàng và dịch thông qua các nghiệp vụ cấp tín bên mua hàng cơ sở dụng nhƣ: cho vay, bảo lãnh… 9 z Có thể thấy, giao dịch cho vay của ngân hàng với khách hàng là những giao dịch cơ sở, xác lập quyền chủ nợ của TCTD đối với bên nợ và là giao dịch tạo hàng hóa cho hoạt động mua bán nợ.
Thông qua giao dịch mua bán nợ, ngân hàng mong muốn thu lại một phần vốn trong các hợp đồng tín dụng đã ký với khách hàng trƣớc đó. Bên mua nợ thƣờng tham gia vào giao dịch này với mục tiêu lợi nhuận. Với khái niệm trên có thể hiểu hợp đồng mua bán nợ của NHTM là sự thỏa thuận của bên bán nợ (ngân hàng) và bên mua nợ (tổ chức, cá nhân…) với mục đích chuyển giao quyền chủ nợ từ bên bán nợ sang bên mua nợ. Ngƣời thứ ba gọi là ngƣời thế quyền, trở thành ngƣời có quyền yêu cầu ngƣời có nghĩa vụ thực hiện nghĩa vụ với mình.
Trong quan hệ giữa chủ nợ và bên khách nợ, thì việc chuyển giao quyền yêu cầu dựa trên quyền của chủ nợ. Thỏa thuận này đã làm thay đổi quyền và nghĩa vụ của các bên. Bên bán nợ sẽ chấm dứt tƣ cách chủ nợ, có nghĩa vụ cung cấp tất cả các thông tin và chuyển giao giấy tờ cho bên mua nợ, không phải chịu trách nhiệm về khả năng thực hiện nghĩa vụ của bên nợ (trừ trƣờng hợp có thỏa thuận khác). Bên mua nợ trở thành chủ thể có quyền yêu cầu bên nợ thực hiện nghĩa vụ đối với mình, đƣợc áp dụng các biện pháp phù hợp với quy định của pháp luật nhằm thu hồi đƣợc nợ từ bên nợ.
Vậy, có thể hiểu ngắn gọn: “Hợp đồng mua bán nợ là thỏa thuận về việc chủ nợ chuyển nhượng quyền đòi nợ của mình cho chủ thể khác, quyền và nghĩa vụ của các bên được thực hiện theo cam kết”. Bản chất Thứ nhất, hợp đồng mua bán nợ là sự thỏa thuận về sự thay đổi chủ thể hƣởng quyền của ngƣời có quyền cho ngƣời thứ ba, nó không làm thay đổi về nội dung của quan hệ. Khi quyền lợi đƣợc chuyển dịch từ ngƣời này sang ngƣời khác, quyền này không bị biến đổi do sự chuyển dịch ấy. Có sự thay đổi về chủ thể quyền lợi nhƣng quyền lợi thì không thay đổi.
Do đó nếu quyền lợi có một vài sự hạn chế trƣớc khi chuyển dịch thì các hạn chế đó vẫn đƣợc duy trì khi quyền lợi đƣợc chuyển dịch cho ngƣời khác, đó là nguyên tắc không ai có thể chuyển dịch cho ngƣời khác nhiều 10 z quyền lợi hơn mà mình có. Ngƣời có quyền yêu cầu sau khi chuyển giao quyền yêu cầu đã không còn tƣ cách chủ thể trong quan hệ nghĩa vụ tức là họ không đƣợc hƣởng lợi ích về quyền yêu cầu đó nữa. Phía ngân hàng khi chuyển giao quyền đòi nợ cho bên mua nợ, thì ngân hàng chấm dứt tƣ cách chủ nợ đối với con nợ. Ngƣời mua nợ trở thành chủ thể có quyền yêu cầu bên nợ thực hiện nghĩa vụ thanh toán cho mình.
Điều này cũng phân biệt chuyển giao quyền yêu cầu với thực hiện quyền yêu cầu thông qua ngƣời thứ ba. Vì thực hiện quyền yêu cầu thông qua ngƣời thứ ba là thỏa thuận giữa ngƣời có quyền yêu cầu với ngƣời thứ ba, theo đó ngƣời có quyền yêu cầu ủy quyền cho ngƣời thứ ba thay mình thực hiện quyền yêu cầu trƣớc ngƣời có nghĩa vụ. Ví dụ ngƣời có quyền yêu cầu đòi nợ ủy quyền cho ngƣời thứ ba đòi nợ cho mình. Quyền và nghĩa vụ của ngƣời thứ ba đƣợc thực hiện theo nội dung ủy quyền.
Ngƣời có nghĩa vụ phải thực hiện nghĩa vụ trƣớc ngƣời thứ ba đƣợc ủy quyền. Nếu ngƣời có nghĩa vụ không thực hiện, thực hiện không đúng, không đầy đủ thì phải chịu trách nhiệm trƣớc ngƣời có quyền. Ngƣời thứ ba thực hiện quyền yêu cầu theo sự ủy quyền chứ không phải quyền yêu cầu của chính mình. Ngƣời thế quyền cũng thực hiện quyền yêu cầu nhƣng là quyền yêu cầu của chính mình.
Thứ hai, hợp đồng mua bán nợ hay là hợp đồng chuyển nhƣợng trái quyền Trong khoa học pháp lý ngƣời ta chia quyền tài sản ra thành quyền đối vật hay còn gọi là vật quyền; quyền đối nhân hay còn gọi là trái quyền, quyền sở hữu trí tuệ. Trong quan niệm Latinh, vật quyền (jus in re) đƣợc hiểu là quyền đƣợc chủ thể (ngƣời có quyền) thực hiện trực tiếp và tức thì trên một vật mà không cần vai trò trung gian của một ngƣời khác.