LỜI MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Trong bối cảnh đại dịch COVID-19 gây ra nhiều ảnh hƣởng tiêu cực đến nền kinh tế toàn cầu, nền kinh tế Việt Nam cũng không ngoại lệ. Từ đầu năm 2020, nền kinh tế Việt Nam đã phải đối mặt với nhiều khó khăn về sản xuất, kinh doanh và tài chính. Tuy nhiên, nhờ vào sự quyết tâm và nỗ lực của Chính phủ, các bộ, ngành cùng với sự đóng góp của hệ thống tài chính, nền kinh tế Việt Nam đã chứng tỏ đƣợc sự chắc chắn, khả năng đề kháng cao và tạo nên sự hồi phục tích cực.
Trong đó, hệ thống tài chính Việt Nam, đặc biệt là các ngân hàng thƣơng mại đã đóng góp một phần quan trọng vào quá trình phục hồi và phát triển của nền kinh tế. Các ngân hàng đã đƣa ra nhiều giải pháp tài chính linh hoạt, hỗ trợ các doanh nghiệp và cá nhân có khó khăn trong quá trình vƣợt qua giai đoạn khó khăn. Các ngân hàng đang cung cấp các sản phẩm tài chính đa dạng, trong đó bao gồm cả CVTD, hoạt động CVTD là một trong những hoạt động đƣợc các ngân hàng tập trung phát triển nhằm hỗ trợ cho nhu cầu vay vốn của khách hàng cá nhân, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của các hộ gia đình và góp phần thúc đẩy tăng trƣởng kinh tế. Những sản phẩm tài chính này không chỉ đáp ứng đƣợc nhu cầu tiêu dùng của ngƣời dân mà còn đóng góp vào việc phát triển các ngành kinh tế có liên quan, nhƣ ngành bán lẻ, sản xuất, vận tải, dịch vụ, … Theo lý thuyết Keynesian, CVTD có thể thúc đẩy tăng trƣởng kinh tế, nếu các ngân hàng CVTD, ngƣời tiêu dùng có thể mua sắm và tiêu dùng nhiều hơn, góp phần tạo ra nhu cầu và thúc đẩy tăng trƣởng kinh tế.
Và cũng theo lý thuyết Chu Kỳ Kinh Doanh Thực (Real Business Cycle: RBC), tăng trƣởng CVTD có thể là một phần của nền kinh tế, nếu nền kinh tế đang trong giai đoạn tăng trƣởng, ngân hàng có thể tăng cấp tín dụng và CVTD, tuy nhiên, khi nền kinh tế suy thoái, CVTD sẽ giảm. Theo các lý thuyết trên cho thấy CVTD góp phần quan trọng trong việc phát triển nền kinh tế. Tại Việt Nam, nhu cầu chi tiêu của ngƣời dân ngày càng tăng, đặc biệt là trong lĩnh vực tiêu dùng cá nhân. CVTD đã trở thành một lĩnh vực có tiềm năng phát triển lớn, không chỉ giúp ngƣời dân đáp x ứng nhu cầu mua sắm mà còn đóng góp vào sự phát triển của nền kinh tế.
Các ngân hàng thƣơng mại đang cạnh tranh nhau để chiếm lĩnh thị trƣờng này và đáp ứng nhu cầu khách hàng, đồng thời thu về lợi nhuận lớn. Tuy nhiên, việc CVTD cũng phải đƣợc thực hiện cẩn trọng để tránh những rủi ro tiềm ẩn, nhƣ tình trạng nợ xấu. Tất cả những điều này càng chứng minh rằng CVTD không chỉ đơn thuần là một sản phẩm tài chính, mà còn là một công cụ hỗ trợ phát triển kinh tế. Agribank là một trong những ngân hàng có vốn điều lệ lớn nhất tại Việt Nam, với tiềm lực tài chính mạnh mẽ và hệ thống chi nhánh rộng khắp.
Agribank đƣợc đánh giá là một trong những ngân hàng dẫn đầu trong lĩnh vực CVTD tại Việt Nam. Các sản phẩm và dịch vụ CVTD của Agribank bao gồm vay mua ô tô, vay mua nhà, vay tiêu dùng cá nhân, vay tiêu dùng mua sắm, vay tiêu dùng thẻ tín dụng và nhiều sản phẩm khác. Với mỗi loại sản phẩm, Agribank sẽ có những điều kiện và lãi suất khác nhau để phù hợp với nhu cầu và khả năng tài chính của khách hàng. Tuy nhiên, Agribank cũng đang đối mặt với những thách thức đáng kể từ đối thủ trong ngành, đặc biệt là các ngân hàng có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài và các công ty tài chính trong và ngoài nƣớc.
Đối thủ cạnh tranh không chỉ tập trung vào việc cung cấp các sản phẩm và dịch vụ CVTD linh hoạt và đa dạng, mà còn đẩy mạnh quảng bá thƣơng hiệu và tiếp cận khách hàng thông qua các kênh trực tuyến, các ứng dụng di động và các công nghệ tiên tiến khác. Hơn nữa, hoạt động CVTD cũng đem lại rủi ro về tài chính cho Agribank. Nếu không thực hiện quản lý rủi ro tốt, Agribank có thể đối mặt với các vấn đề nhƣ khó khăn trong thu hồi nợ, giảm lợi nhuận hoặc thậm chí là tổn thất về tài sản. Do đó, Agribank cần phải có một chiến lƣợc quản lý rủi ro hiệu quả và đa dạng hóa khoản CVTD của mình.
Sau thời gian tiếp xúc với hoạt động tín dụng tại Agribank chi nhánh TP Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp, tôi nhận thấy rằng các vấn đề và thách thức đƣợc liệt kê ở trên cũng đã và đang tồn tại ở chi nhánh này, vì vậy, việc phân tích và đánh giá hiệu quả CVTD là vô cùng cần thiết nhằm giúp chi nhánh đƣa ra các sự điều chỉnh và chính sách qua đó nâng cao hiệu quả CVTD. Điều này là cơ sở để tôi quyết định chọn đề tài "Nâng cao hiệu quả CVTD tại Ngân hàng Nông nghiệp xi và Phát triển Nông thôn - Chi nhánh TP. Hồng Ngự - Đồng Tháp" làm đề tài nghiên cứu cho khóa luận tốt nghiệp của mình. Mục tiêu nghiên cứu 2.
Mục tiêu tổng quát Thông qua phân tích thực trạng hiệu quả CVTD tại Agribank chi nhánh TP. Hồng Ngự tỉnh Đồng Tháp trong giai đoạn 2020 – 2022 chỉ ra những hạn chế và nguyên nhân để từ đó đề xuất những biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả CVTD tại chi nhánh. Mục tiêu cụ thể Phân tích và đánh giá thực trạng hiệu quả CVTD tại Agribank chi nhánh TP. Hồng Ngự tỉnh Đồng Tháp trong giai đoạn 2020 – 2022.
Chỉ ra hạn chế và nguyên nhân Đƣa ra các đề xuất về giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả CVTD tại chi nhánh. Câu hỏi nghiên cứu Để giải quyết những mục tiêu nghiên cứu, chúng ta cần giải quyết các câu hỏi sau: - Thực trạng hiệu quả CVTD tại Agribank chi nhánh TP. Hồng Ngự? - Nguyên nhân dẫn đến hạn chế của quá trình CVTD tại Agribank chi nhánh TP. Hồng Ngự? - Giải pháp nâng cao hiệu quả CVTD tại Agribank chi nhánh TP.
Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu 4. Đối tƣợng nghiên cứu Hiệu quả CVTD tại Agribank chi nhánh TP. Hồng Ngự tỉnh Đồng Tháp. Phạm vi nghiên cứu xii Trong giai đoạn 2020 – 2022, tại Agribank chi nhánh TP.
Hồng Ngự tỉnh Đồng Tháp. Phƣơng pháp nghiên cứu Trong quá trình nghiên cứu, đề tài này sử dụng kết hợp các phƣơng pháp sau: Phƣơng pháp phân tích dữ liệu định tính, phƣơng pháp thống kê, mô tả, tổng hợp, so sánh, … Kết hợp giữa lý luận thực tiễn để giải quyết các vấn đề liên quan của đề tài nghiên cứu. Ý nghĩa nghiên cứu Về lý luận: đề tài sẽ hệ thống hóa, phân tích và trình bày một số khía cạnh lý luận cơ bản về hoạt động CVTD, cũng nhƣ phân tích hoạt động CVTD tại Ngân hàng Thƣơng mại để có đƣợc cái nhìn tổng quan và sâu sắc về chủ đề này. Về thực tiễn: Đề tài đã tiến hành thu thập dữ liệu, phân tích và đánh giá các mặt của hoạt động CVTD tại Agribank chi nhánh TP.
Trên cơ sở đó, đề tài sẽ đƣa ra các giải pháp và kiến nghị có khả năng áp dụng vào hoạt động của chi nhánh để nâng cao hiệu quả CVTD. Kết quả nghiên cứu của đề tài cũng mang lại giá trị tham khảo cho các chi nhánh ngân hàng có điều kiện tƣơng tự. 1 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ HOẠT ĐỘNG CVTD TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. HOẠT ĐỘNG CHO VAY TIÊU DÙNG CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.
Khái niệm cho vay tiêu dùng CVTD là một trong những dịch vụ tài chính phổ biến nhất trên thế giới, cho phép khách hàng vay một khoản tiền để mua sắm hoặc chi tiêu cá nhân khác. Tuy nhiên, khái niệm CVTD không chỉ đơn thuần là việc cung cấp khoản vay tiền, mà còn đòi hỏi các ngân hàng và tổ chức tài chính phải tuân thủ các quy định pháp luật về việc CVTD, đảm bảo tính minh bạch, công bằng và an toàn cho tất cả các bên liên quan. Một số khái niệm phổ biến về CVTD trên thế giới đang đƣợc áp dụng chủ yếu tại các nền kinh tế phát triển hiện nay. Theo Cục Bảo vệ Tài chính Ngƣời tiêu dùng (Consumer Protection Financial Bureau: CFPB) là một cơ quan quản lý tài chính ở Mỹ đã định nghĩa rõ Cho vay cá nhân (Personal Loans) là một khái niệm đƣợc sử dụng phổ biến trong lĩnh vực CVTD ở Mỹ.
Đây là một loại khoản vay cá nhân không đòi hỏi tài sản thế chấp, nghĩa là không cần phải cung cấp bất kỳ tài sản nào để đảm bảo cho khoản vay đƣợc xét duyệt. Thay vào đó, khoản vay này thƣờng đƣợc dựa trên điểm tín dụng của ngƣời vay. Lãi suất của các khoản vay cá nhân này thƣờng cao hơn so với các khoản vay có tài sản thế chấp, bởi vì nhà cung cấp dịch vụ cho vay không có tài sản nào để đảm bảo khoản vay của khách hàng. Tuy nhiên, các khoản vay này lại mang lại lợi ích lớn cho khách hàng trong việc giải quyết các khoản nợ khác, chi tiêu đột xuất hoặc đầu tƣ vào một số hoạt động kinh doanh nhỏ.
Có thể thấy khái niệm CVTD tại Mỹ tập trung vào các khoản vay có tính tiện lợi, không cần đòi hỏi về tài sản thế chấp, và đáp ứng nhanh chóng nhƣng lại có lãi suất khá cao và lĩnh vực CVTD còn có sự can thiệp của các tổ chức giám 2 sát tài chính tiêu biểu nhƣ CFPB nhằm bảo vệ quyền lợi ngƣời tiêu dùng. Theo tổ chức Money Advice Service lĩnh vực CVTD tại nƣớc Anh, các khoản vay không có tài sản thế chấp “unsecured loans” đƣợc coi là dạng phổ biến nhất. Giống nhƣ thị trƣờng CVTD ở Mỹ nói trên điều này có nghĩa là ngƣời vay không cần phải cung cấp bất kỳ tài sản thế chấp nào để đƣợc duyệt khoản cho vay. Thay vào đó, các khoản vay này thƣờng đƣợc xác định dựa trên điều kiện tài chính của ngƣời vay, bao gồm thu nhập, lịch sử tín dụng và số tiền vay.
Các khoản vay không có tài sản thế chấp thƣờng có mức lãi suất cố định và thời hạn trả nợ cũng tùy thuộc vào số tiền vay và tình hình tài chính của ngƣời vay. Ngoài ra, ngƣời vay cũng có thể trả trƣớc một phần hoặc toàn bộ số tiền vay trƣớc thời hạn để giảm thiểu chi phí lãi suất.