CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VAY TIÊU DÙNG 1.1 CÁC KHÁI NIỆM LIÊN QUAN VỀ VAY TIÊU DÙNG: 1.1 Tổng quan về tín dụng ngân hàng thương mại 1.1 Khái niệm tín dụng ngân hàng Thuật ngữ tín dụng xuất phát từ chữ La Tinh: “Credo” – đó là sự tin tưởng, tín nhiệm một người về một vấn đề nào đó. Thuật ngữ tín dụng được diễn giải trong tiếng anh: “Credit”. Thuật ngữ tín dụng theo dân gian Việt Nam được diễn giải : “Sự vay mượn” Theo quyết định số 1627/QĐ-NHNN của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: “Cho vay là một hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng giao cho khách hàng sử dụng một khoản tiền để sử dụng vào một mục đích và thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả gốc và lãi”. Theo Luật các TCTD (2010), nếu đứng trên góc độ quan hệ giữa các TCTD với khách hàng ta có thể hiểu tín dụng theo nghĩa sau: “Cấp tín dụng là việc TCTD thỏa thuận để khách hàng sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng các nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bảo lãnh và nghiệp vụ khác”.
Như vậy tín dụng ngân hàng: Là giao dịch tài sản giữa ngân hàng (TCTD) với bên đi vay (tổ chức kinh tế, cá nhân trong nền kinh tế) trong đó ngân hàng (TCTD) chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận, và bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện cả vốn gốc và lãi cho ngân hàng (TCTD) khi đến hạn thanh toán.2 Bản chất tín dụng ngân hàng Theo Lê Văn Tề (2010) cho rằng bản chất tín dụng là một giao dịch về tài sản trên cơ sở hoàn trả và có các đặc trưng cơ bản như sau: Tài sản giao dịch trong quan hệ tín dụng ngân hàng bao gồm hai hình thức là cho vay (bằng tiền) và cho thuê (bất động sản và động sản), xuất phát từ nguyên tắc hoàn trả, giá trị hoàn trả thông thường phải lớn hơn giá trị lúc cho vay (gốc + lãi vay), tiền vay được cấp trên cơ sở bên đi vay cam kết hoàn trả vô điều kiện cho bên cho vay khi đến hạn thanh toán.3 Các hình thức tín dụng Ngân hàng thương mại Căn cứ vào mục đích sử dụng vốn tín dụng, tín dụng được chia như sau: 0 0 - Tín dụng sản xuất và lưu thông hàng hóa: Là loại cấp phát tín dụng cho các doanh nghiệp và các chủ thể kinh tế khác tiến hành sản xuất và lưu thông hàng hóa. - Tín dụng tiêu dùng: Là hình thức tín dụng cấp cho cá nhân để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng như mua sắm nhà ở, xe ô tô, các hàng hóa tiêu dùng khác…Hiện nay, loại tín dụng tiêu dùng là một trong thị trường tín dụng rộng lớn. - Tín dụng học tập: là hình thức cấp phát tín dụng để phục vụ việc học tập của học sinh sinh viên như nộp học phí, trang trải cuộc sống sinh viên hàng tháng. Căn cứ vào sự đảm bảo tín dụng, tín dụng được chia làm các loại: - Tín dụng có đảm bảo: Là loại tín dụng mà người cho vay đòi hỏi người vay vốn phải có tài sản, cầm cố, thế chấp hoặc bảo lãnh của bên thứ 3.
- Tín dụng không có bảo đảm: Là loại tín dụng mà người vay không buộc phải sử dụng tới tài sản thế chấp, cầm cố hoặc sự bảo lãnh của bên thứ 3. Căn cứ vào phương pháp hoàn trả chia thành các loại: - Tín dụng trả góp: Là phương thức cho vay mà theo đó các kỳ trả nợ gốc và lãi trùng nhau, số tiền trả nợ của mỗi kỳ là bằng nhau, số lãi được tính trên số dư nợ gốc và số ngày thực tế của kỳ hạn trả nợ. - Tín dụng hoàn trả cố định: Là loại tín dụng được thanh toán một lần theo kỳ hạn đã thỏa thuận. - Tín dụng hoàn trả theo yêu cầu: Là loại tín dụng mà người vay có thể hoàn trả bất cứ lúc nào khi có thu nhập.
Căn cứ theo thời hạn tín dụng thì TDNH được chia làm 3 loại: - Tín dụng ngắn hạn: Không quá 12 tháng chủ yếu sử dụng để bù đắp sự thiếu hụt vốn lưu động của các doanh nghiệp và các nhu cầu chi tiêu ngắn hạn của cá nhân. - Tín dụng trung hạn: Là loại tín dụng từ trên 12 tháng đến 60 tháng, dùng đầu tư mua sắm tài sản cố định, mở rộng sản xuất kinh doanh và cải tiến, đổi mới thiết bị công nghệ, xây dựng dự án quy mô nhỏ có thời gian thu hồi vốn nhanh chóng. - Tín dụng dài hạn: Trên 60 tháng, sử dụng để đáp ứng cho việc đầu tư dài hạn như xây dựng nhà ở, dùng để đầu tư xây dựng các xí 0 0 nghiệp mới, các công trình thuộc cơ sở hạ tầng, cải tiến và mở rộng sản xuất có quy mô lớn.4 Vai trò của tín dụng Ngân hàng thương mại Tín dụng là công cụ thúc đẩy quá trình tái sản xuất mở rộng và góp phần điều tiết vĩ mô nền kinh tế. Tín dụng góp phần thúc đẩy quá trình tích tụ và tập trung vốn.
Tín dụng góp phần tiết kiệm chi phí lưu thông xã hội. Tín dụng góp phần thực hiện chính sách xã hội.2 Tổng Quan Về Hoạt Động Cho Vay Tiêu Dùng 1.1 Khái niệm hoạt động cho vay tiêu dùng Cho vay tiêu dùng là một hoạt động cơ bản trong bất kỳ ngân hàng thương mại nào. Theo Nguyễn Minh Kiều (2011): “Cho vay tiêu dùng là loại cho vay nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu và mua sắm tiện nghi sinh hoạt gia đình nhằm nâng cao đời sống dân cư. Khách hàng vay là những người có thu nhập không cao nhưng ổn định, chủ yếu là công nhân viên chức hưởng lương và có việc làm ổn định và số lượng khách hàng thì rất đông”.
Trong khi đó theo định nghĩa của tác giả Trầm Thị Xuân Hương (2012): “Cho vay tiêu dùng là loại hình cho vay nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt, tiêu dùng của khách hàng ”. Thông qua hai khái niệm bên trên ta có thể hiểu cho vay tiêu dùng là những khoản vay nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu và mua sắm nâng cao đời sống của dân cư như: mua nhà, mua xe, du học, mua các vật dụng phục vụ hoạt động sinh hoạt như: nội thất, bàn ghế, ti vi, tủ lạnh,. Đây là một khoản tài trợ quan trọng đối với các cá nhân và hộ gia đình.2 Đặc điểm của hoạt động cho vay tiêu dùng Thứ nhất: Quy mô của các khoản vay nhỏ, số lượng khoản vay lớn. Hoạt động cho vay tiêu dùng có thể coi là một dịch vụ bán lẻ, hướng tới đối tượng khách hàng rất đa dạng và phong phú mức thu nhập của nhóm khách hàng này không quá thấp nhóm đối tượng khách hàng này có nhu cầu rất đa dạng, đối tượng sử dụng các khoản vay đa dạng tuy nhiên quy mô của các khoản vay là không lớn.
Thứ hai: Theo đánh giá của các chuyên gia, cho vay tiêu dùng có mức độ rủi ro khá thường xuyên. Nguyên nhân là bản thân khách hàng vay vốn có thể phát sinh những biến động về tình hình tài chính dẫn đến mất khả năng chi trả hay khi khách hàng cố tình không chịu trả nợ. Ngoài ra, để được xét duyệt vay vốn, nhiều khách hàng đã không trung thực trong việc khai báo các thông 0 0 tin về tình hình tài chính trong tương lai của mình nên các Ngân hàng dễ gặp phải rủi ro đạo đức khi cho vay. Thứ ba: Chúng ta có thể thấy, cho vay tiêu dùng thường chịu ảnh hưởng của nhiều rủi ro.
Do vậy các NHTM thường áp dụng mức lãi suất cho vay cao hơn khách hàng là doanh nghiệp, dẫn đến lợi nhuận kỳ vọng từ hoạt động cho vay tiêu dùng cũng cao hơn so với các hoạt động cho vay khác. Thứ tư: Mục đích cho vay tiêu dùng chủ yếu là hướng tới mục đích vay tiêu dùng như: mua nhà, mua xe ô tô, mua tiêu dùng, du học, chữa bệnh …. Thứ năm: NHTM phải bỏ ra mức chi phí cho các khoản vay cho vay tiêu dùng tương đối thấp, do chi phí cho nhân lực và công cụ để thẩm định khách hàng là tương đối cao không đáng kể, số lượng các khoản vay lớn nhưng quy mô mỗi khoản vay lại tương đối nhỏ. Thứ sáu: Lãi suất cho vay của các khoản cho vay tiêu dùng thường cao hơn so với các khoản cho vay KHDN.
Nguyên nhân bởi vì chi phí cho vay tiêu dùng tính trên mỗi đơn vị đồng vốn cho vay là lớn, mức độ rủi ro của khoản vay cao và kém nhạy bén với lãi suất. Thứ bảy: Thời gian vay vốn của cho vay tiêu dùng đa dạng, bao gồm các khoản vay ngắn hạn, trung và dài hạn. Đối với những khoản vay phục vụ nhu cầu tiêu dùng của cá nhân và hộ gia đình thì thời hạn vay thường là trung và dài hạn.3 Vai trò của cho vay tiêu dùng Theo Nguyễn Đình Thọ (2011) đưa ra các vai trò của hoạt động cho vay tiêu dùng là: - Phát triển cho vay tiêu dùng đang là xu hướng tất yếu của các NHTM hiện nay, bởi nó có ý nghĩa lớn không chỉ đối với bản thân ngân hàng, khách hàng mà còn có tầm ảnh hưởng đến cả nền kinh tế đất nước. Xác định rõ điều đó để xây dựng và hoàn thiện những kế hoạch, chính sách phát triển tốt cho loại hình cho vay tiêu dùng đang là thách thức dành cho hệ thống các NHTM.
- Đối với ngân hàng: xét trên phương diện chung thì cho vay tiêu dùng có vai trò quan trọng, góp phần vào quá trình phát triển và xây dựng đường lối cho các NHTM, mở rộng thị trường, nâng cao năng lực cạnh tranh, tiếp cận được nhiều KH tiềm năng. - Đối với khách hàng: Đem đến sự thuận tiện, an toàn, dễ tiếp cận vốn cho khách hàng, đồng thời tạo sự thuận lợi trong quá trình thanh 0 0 toán và sử dụng nguồn thu nhập của mình. Hoạt động cho vay thường đơn giản, dễ thực hiện và thường xuyên, tập trung. - Đối với nền kinh tế: Cho vay tiêu dùng góp phần đáp ứng nhu cầu về vốn của các cá nhân, để phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng, duy trì, mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh.
Giảm khối lượng tiền mặt lưu thông khi sử dụng công cụ thanh toán không dùng tiền mặt và giảm được chi phí in ấn, bảo quản, vận chuyển. Điều tiết lượng tiền tệ lưu thông trong nền kinh tế, ổn định thị trường tiền tệ 1.