mở đầu và kết luận nội dung chính luận văn chia làm 3 chƣơng nhƣ sau: Chƣơng 1: Lý luận cơ bản về hiệu quả cho vay KHCN của Ngân hàng thƣơng mại. 14 Chƣơng 2: Thực trạng hiệu quả cho vay KHCN Ngân hàng TMCP Quốc Dân Chi nhánh Bắc Giang Chƣơng 3: Giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả cho vay KHCN tại NCB Chi nhánh Bắc Giang. 15 CHƢƠNG 1: LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ HIỆU QUẢ CHO VAY KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Khái quát về cho vay khách hàng cá nhân của ngân hàng thƣơng mại 1.
Khái niệm cho vay khách hàng cá nhân của ngân hàng thương mại Để hiểu rõ về hoạt động cho vay của ngân hàng cần phải phân biệt giữa khái niệm đầu tƣ và cho vay. Theo nghĩa rộng cho vay là một hoạt động tín dụng và là một trong những hoạt động đầu tƣ. Cho vay là việc ngƣời có tiền giao cho ngƣời cần tiền một số tiền nhất định với điều kiện phải trả gốc và lãi theo đúng thời hạn đã định. Đầu tƣ là hoạt động bỏ vốn ở hiện tại với kì vọng thu đƣợc nhiều hơn trong tƣơng lai.
Cho vay và đầu tƣ theo hoạt động của ngân hàng có những đặc điểm khác biệt. Hoạt động cho vay là hoạt động trực diện với khách hàng thông qua các cuộc thƣơng lƣợng. Còn trong hoạt động đầu tƣ thì bản thân ngân hàng lựa chọn một loạt các danh mục chứng khoán với kì hạn định sẵn. Trong hoạt động cho vay ngƣời khởi xƣớng giao dịch là khách hàng, còn hoạt động đầu tƣ sẽ do ngân hàng chủ động khởi xƣớng.
Một điểm khác biệt nữa là đối với hoạt động cho vay thì ngân hàng là một trong vài chủ nợ của ngƣời vay, còn đầu tƣ thì ngân hàng là một trong rất nhiều chủ nợ. Theo Điều 3 quyết định 1627/2001/QĐ-NHNN thì “Cho vay là một hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng giao cho khách hàng sử dụng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắt có hoàn trả cả gốc và lãi”. Hoạt động cho vay của ngân hàng gồm: cho vay, bảo lãnh, cho thuê tài chính, chiết khấu thƣơng phiếu. Cho vay là một hình thức cơ bản của hoạt động tín dụng.
Ngân hàng nào hoạt động cũng có hình thức cho vay. Ngân hàng trực tiếp giao tiền hoặc giao qua tài khoản cho khách hàng sử dụng số tiền vay đó. Khách hàng sau khi vay tiền không đƣợc tùy ý sử dụng mà phải sử dụng theo đúng mục đích và thời gian nhất định. Mục đích sử dụng tiền và thời gian sử dụng đã đƣợc ngân hàng và khách hàng cùng thống nhất thông qua và đƣợc ký kết thành hợp đồng.
Theo hợp đồng đƣợc ký kết ngân hàng phải cung cấp tiền cho khách hàng đủ và đúng thời gian quy định, và theo đó khách hàng phải đảm bảo trả nợ gốc và lãi cho ngân hàng đúng thời hạn. 16 Khách hàng muốn vay vốn của bất kì ngân hàng nào cũng phải thỏa mãn những điều kiện pháp luật quy định. Trƣớc hết khách hàng phải có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sƣ và chịu trách nhiệm dân sự theo quy định của pháp luật. Điều này sẽ giúp ngân hàng sàng lọc đƣợc khách hàng tốt cho mình, và hơn thế nữa ngân hàng sẽ đƣợc pháp luật bảo vệ lợi ích khi khách hàng không thực hiện đúng hợp đồng.
Mục đích sử dụng vốn vay của ngân hàng phải hợp với pháp luật. Tức là khách hàng không đƣợc sử dụng vốn vay để kinh doanh hàng hóa mà pháp luật cấm, không đƣợc sử dụng vốn vay để đảo nợ, … Khách hàng phải có dự án đầu tƣ, phƣơng án sản xuất kinh doanh, dịch vụ có hiệu quả và phù hợp với quy định của pháp luật. Ngoài ra khách hàng phải thực hiện đảm bảo tiền vay nhƣ cầm cố, thế chấp, bảo lãnh, … theo quy định của pháp luật. Ta có thể hiểu “Cho vay khách hàng cá nhân là hình thức tài trợ tài chính của ngân hàng, công ty tài chính.
Sau khi nhận được yêu cầu vay vốn, ngân hàng hoặc công ty tài chính sẽ giải ngân một khoản tiền nhất định tới khách hàng với cam kết sẽ phải hoàn trả đầy đủ cả gốc và lãi trong thời gian xác định. Cho vay khách hàng cá nhân là hình thức tài trợ tài chính của ngân hàng, công ty tài chính. Sau khi nhận được yêu cầu vay vốn, ngân hàng hoặc công ty tài chính sẽ giải ngân một khoản tiền nhất định tới khách hàng với cam kết sẽ phải hoàn trả đầy đủ cả gốc và lãi trong thời gian xác định. Đặc điểm của hoạt động cho vay khách hàng cá nhân Hoạt động cho vay KHCN là một trong những nguồn thu nhập quan trọng đối với hoạt động của các ngân hàng.
Các khoản cho vay đối với KHCN thƣờng là những khoản vay có giá trị nhỏ nhƣng số lƣợng các khoản vay là rất lớn. Cho vay KHCN của NHTM có những đặc điểm sau: - Thứ nhất đối tượng khách hàng đi vay: Thƣờng là cá nhân trong nƣớc, đầu tƣ hay phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh của cá nhân.KHCN thƣờng có số lƣợng rất lớn, nhu cầu vay vốn đa dạng. - Thứ hai, mục đích các khoản cho vay: Thƣờng là đáp ứng nhu cầu thiếu hụt vốn trong sinh hoạt, tiêu dùng và trong sản xuất kinh doanh nhỏ lẻ. 17 - Thứ ba, nguồn trả nợ của hình thức cho vay: Là khoản tiền dùng để trả nợ thƣờng là tiền lƣơng, thu nhập hàng tháng và thu nhập từ các hoạt động kinh doanh nhỏ lẻ và khá ổn định.
Vì vậy xu hƣớng cấp tín dụng cho đối tƣợng khách hàng này của các ngân hàng thƣơng mại ngày nay đƣợc chú trọng phát triển nhằm giảm rủi ro ở các khoản vay thƣơng mại lớn hiện nay. - Thứ tư, thời hạn: Các khoản cho vay KHCN đa số là ngắn hạn, một số là trung hạn và dài hạn. - Thứ năm, lãi suất: Lãi suất cho vay thƣờng cao hơn so với lãi suất của các loại cho vay trong lĩnh vực thƣơng mại và công nghiệp. Lý do bởi vì ngân hàng vẫn phải tiến hành theo đủ mọi thủ tục cho vay bao gồm thẩm định hồ sơ, thẩm định khách hàng, giải ngân, kiểm soát sau khi cho vay.
trong khi phần lớn các khoản cho vay đối tƣợng này có giá trị nhỏ, đa số khách hàng đi vay chỉ để bù đắp thiếu hụt chi tiêu. Phân loại cho vay khách hàng cá nhân - Bao gồm cho vay có TSĐB và cho vay không TSĐB 1. Dựa vào thời hạn vay Có thể phân chia thành ba nhóm chủ yếu là cho vay ngắn hạn, trung hạn và dài hạn. Cụ thể: Cho vay ngắn hạn: là hình thức cho vay của ngân hàng đối với khách hàng, trong đó thời hạn sử dụng vốn vay do các bên thỏa thuận là 12 tháng.
Hình thức cho vay này chủ yếu nhằm đáp ứng nhu cầu về vốn lƣu động của khách hàng trong hoạt động kinh doanh hoặc thỏa mãn nhu cầu về tiêu dùng của khách hàng trong thời gian ngắn hạn. Cho vay trung hạn: là hình thức cho vay trong đó thời gian sử dụng vốn vay do các bên thỏa thuận là từ trên 12 tháng đến 60 tháng. Hình thức cho vay này thƣờng đƣợc sử dụng để thỏa mãn nhu cầu mua sắm tài sản cố định của khách hàng trong kinh doanh. Cho vay dài hạn: là hình thức cho vay trong đó thời gian sử dụng vốn vay do các bên thỏa thuận là trên 60 tháng.
Hình thức cho vay này nhằm tài trợ cho việc đầu tƣ vào các dự án có quy mô vừa và lớn. Dựa vào mức độ tín nhiệm của khách hàng Có thể phân chia thành hai nhóm là cho vay tín chấp và cho vay thế chấp , cầm cố : Cho vay thế chấp , cầm cố: đây là hình thức cho vay trong đó nghĩa vụ trả nợ tiền vay đƣợc bảo đảm bằng tài sản của bên vay hoặc ngƣời thứ ba. Trong nền kinh tế thị trƣờng, mọi hoạt động kinh luôn chứa đựng khả năng rủi ro, điều đó rất có thể kéo theo rủi ro của ngân hàng cho vay vốn. Bởi vây, trên thực tế, đảm bảo thƣờng đƣợc coi là điều kiện quan trọng trong mọi nghiệp vụ cho vay của ngân hàng.
Cho vay có đảm bảo bằng tài sản của ngƣời vay là hình thức cho vay qua sự xác định giá trị của tài sản mà khách hàng thế chấp cho ngân hàng khi vay vốn. Tài sản thế chấp có thể là động sản hoặc bất động sản. Cho vay có đảm bảo bằng tài sản khách hàng vay chủ yếu đƣợc thực hiện bằng các hình thức: cho vay thế chấp bất động sản, động sản. Cho vay tín chấp: đây là hình thức cho vay trong đó nghĩa vụ hoàn trả lại tiền vay không đƣợc đảm bảo bằng các tài sản của khách hàng vay hoặc của ngƣời thứ ba.
Để thực hiện việc cho vay theo hình thức này, thông thƣờng các bên chỉ cần giao kết một hợp đồng duy nhất là hợp đồng tín dụng. Ngân hàng khi cho vay chỉ dựa vào uy tín của khách hàng để xem xét cho vay. Khách hàng uy tín là khách hàng có năng lực tài chính lành mạnh, trung thực trong kinh doanh, quản trị kinh doanh có hiệu quả, có tín nhiệm với ngân hàng trong việc sử dụng vốn vay, hoàn trả nợ cả gốc và lãi. Dựa vào phương thức cho vay Có thể phân chia thành nhiều nhóm là cho vay từng lần, cho vay theo hạn mức tín dụng, cho vay trả góp, cho vay thông qua nghiệp vụ phát hành và sử dụng thẻ tín dụng.
Cho vay từng lần: áp dụng cho các khách hàng có nhu cầu vay vốn thời vụ hoặc chƣa tạo đƣợc sự uy tín lâu năm với ngân hàng. Mỗi lần vay vốn, khách hàng và ngân hàng phải lập thủ tục vay vốn theo quy định và ký kết hợp đồng tín dụng mới. Khi khách hàng trả nợ bớt không thể vay tiếp số còn lại trong hợp đồng tín dụng. 19 Cho vay theo hạn mức tín dụng: áp dụng cho các khách hàng có nhu cầu vay vốn thƣờng xuyên và tạo đƣợc uy tín với ngân hàng.
Giải ngân và thu nợ thành nhiều lần, khi khách hàng trả bớt nợ có thể vay tiếp số còn lại theo hợp đồng tín dụng. Hình thức cho vay này yêu cầu tài sản đảm bảo, thông thƣờng là bất động sản, giấy tờ có giá hay những tài sản khác mà ngân hàng chấp nhận. Theo đó, doanh nghiệp, cá nhân đƣợc ngân hàng xác định cho một hạn mức tín dụng duy trì trong một khoảng thời gian nhất định để căn cứ cho việc vay lần sau.