Chương 1: KHÁI QUÁT ĐỊA CHẤT BỒN TRŨNG NAM CÔN SƠN – ĐẶC ĐIỂM ĐỊA CHẤT VÀ MÔ HÌNH MỎ GẤU TRẮNG 1. Địa chất khu vực bồn trũng Nam Côn Sơn 1. Vị trí ñịa lý – ñặc ñiểm tự nhiên Bể Nam Côn Sơn có diện tích gần 100,000 km2, nằm trong khoảng giữa 6o00’ ñến 9o45’ vĩ ñộ Bắc, 106o00’ ñến 109o00’ kinh ñộ Đông. Ranh giới phía Bắc của bể là ñới nâng Côn Sơn, phía Tây và Nam là ñới nâng Khorat - Natuna, còn phía Đông là bể Tư Chính - Vũng Mây và phía Đông Bắc là bể Phú Khánh.
Sơ ñồ vị trí bồn trũng Nam Côn Sơn [4] 8 _____________________________________________________________________ Độ sâu nước biển trong phạm vi bể thay ñổi rất lớn, từ vài chục mét ở phía Tây ñến hơn 1000m ở phía Đông. Trên ñịa hình ñáy biển, các tích tụ hiện ñại ñược thành tạo chủ yếu do tác ñộng của dòng chảy thủy triều cũng như dòng ñối lưu, mà hướng và tốc ñộ của chúng phụ thuộc vào 2 hệ gió mùa chính: hệ gió mùa Tây Nam từ cuối tháng 5 ñến cuối tháng 9 và hệ gió mùa Đông Bắc từ ñầu tháng 11 năm trước ñến cuối tháng 3 năm sau. Trầm tích ñáy biển chủ yếu bùn và cát, ở nơi bờ cao và ñảo là ñá cứng hoặc san hô. Bể Nam Côn Sơn bị giới hạn về phía bắc bởi ñới nâng Phan Rang, ngăn cách với bể Phú Khánh ở phía tây bắc bởi ñới nâng Côn Sơn, ngăn cách với bể Cửu Long ở phía tây và phía nam bởi ñới nâng Khorat-Natuna.
Ranh giới phía ñông, ñông nam của bể ñược giới hạn bởi ñơn nghiêng Đà Lạt - Vũng Mây và bể Trường Sa, phía ñông nam là bể Vũng Mây. Bể này nằm trên kiểu vỏ chuyển tiếp giữa các miền vỏ lục ñịa và kiểu vỏ ñại dương 1. Đặc ñiểm cấu trúc – kiến tạo 1. Các ñơn vị cấu trúc Đới phân dị phía Tây (C): ñới nằm ở phía Tây của bể trên các lô 27, 28, 29 và nửa phần Tây của các lô 19, 20, 21, 22.
Ranh giới phía Đông của ñới ñược lấy theo hệ ñứt gãy Sông Đồng Nai. Đặc trưng cấu trúc của ñới là sự sụt nghiêng khu vực về phía Đông theo kiểu xếp chồng do kết quả hoạt ñộng ñứt gãy - khối chủ yếu theo hướng Bắc nam, tạo thành các trũng hẹp sâu ở cánh Tây của các ñứt gãy. Đới phân dị phía Tây ñược chia nhỏ thành các phụ ñới rìa Tây (C1) và phụ ñới phân dị phía Tây (C2). Đới phân dị chuyển tiếp (B): ñới này có ranh giới phía Tây là ñứt gãy sông Đồng Nai, phía Đông và Đông Bắc là hệ ñứt gãy Hồng - Tây Mãng Cầu.
Ranh giới phía Bắc Tây Bắc ñược lấy theo ñường ñẳng sâu móng 1000m của ñới nâng Côn Sơn. Ranh giới phía nam là khối móng nhô cao với ñộ sâu từ 1000 ñến 1500m. Đới mang cấu trúc chuyển tiếp từ ñới phân dị phía Tây kéo sang phía Đông và từ ñới nâng Côn 9 _____________________________________________________________________ Sơn kéo xuống phía Nam. Đới bị chia cắt bởi các hệ thống ñứt gãy phương bắc-nam, ñông bắc-tây nam và ñông-tây.
Đới phân dị chuyển tiếp ñược chia thành 2 ñơn vị cấu trúc bao gồm phụ ñới phân dị phía Bắc (B1) và phụ ñới cận Natuna (B2). Đới sụt phía Đông (A): Gồm diện tích rộng lớn ở trung tâm và phần Đông bể Nam Côn Sơn với ñặc tính kiến tạo sụt lún, ñứt gãy hoạt ñộng nhiều pha chiếm ưu thế. Đới sụt phía Đông ñược phân chia nhỏ thành các ñơn vị cấu trúc sau: Phụ ñới trũng Bắc (A1), phụ ñới nâng Mãng Cầu (A2), phụ ñới trũng Trung Tâm (A3), phụ ñới nâng Dừa (A4) và phụ ñới trũng nam (A5). Bản ñồ các yếu tố cấu trúc bể Nam Côn Sơn [4] 11 _____________________________________________________________________ 1.
Lịch sử kiến tạo Bồn trũng Nam Côn Sơn là bồn trũng tách giãn, phát triển vào thời kỳ Đệ Tam cùng với sự hình thành biển Đông, bao gồm hai pha hoạt ñộng tách giãn chính với cơ chế căng giãn khác nhau: pha căng giãn thứ nhất có trục tách giãn theo phương Bắc – Nam, là kết quả của sự hút chìm mảng biển Đông cổ xuống dưới mảng Borneo; pha căng giãn thứ hai thể hiện rõ hơn sự trượt bằng của mảng phương Đông Bắc – Tây Nam của biển Đông xảy ra chủ yếu vào Miocene giữa. Sau Miocene giữa, sụt lún nhiệt diễn ra ñến hiện nay. Pha ñầu tiên của quá trình tách giãn xảy ra từ Eoxen muộn ñến Oligoxen sớm và kết thúc vào Oligoxen muộn. Ở giai ñoạn ñầu, trầm tích vụn thô các tướng sông ngòi, ñồng bằng châu thổ lấp ñầy các ñịa hào và bán ñịa hào ñược mở ra trong giai ñoạn này.
Quá trình tách giãn tiếp tục, bồn trũng lún chìm và ñược mở rộng dần về phía Tây với các tướng trầm tích thay ñổi từ tướng sông ngòi, phần trên ñồng bằng châu thổ ở phía Tây ñến phần dưới ñồng bằng châu thổ ở phía Đông của bồn trũng. Vào thời kỳ cuối của pha tách giãn thứ nhất, khu vực mỏ Gấu Trắng thuộc phạm vi mở rộng của bồn trũng về phía Tây. Pha tách giãn thứ hai xảy ra từ Miocene sớm, mạnh mẽ trong Miocene giữa và kết thúc cuối Miocene giữa. Pha tách giãn này tiếp tục hoạt ñộng tạo nên các trũng Trung tâm khá sâu với cấu trúc vẫn theo hướng Đông Bắc – Tây Nam, ñồng thời tiếp tục mở rộng bồn về phía Tây; còn môi trường trầm ñọng thay ñổi từ môi trường cửa sông cho ñến thềm trong.
Kết thúc pha này là sự nâng lên và bóc mòn có tính khu vực. Tiếp theo là sự lún chìm nhiệt xảy ra từ Miocene muộn ñến Plioxen, tích tụ những lớp sét biển sâu, dày, tạo nên tầng chắn khu vực khá tốt. Vào thời kỳ Plioxen - Pleistoxen ñến hiện tại thềm lục ñịa Việt Nam ñược mở rộng về phía Tây, nối liền bồn trũng Cửu Long và cả ñồng bằng sông Cửu Long. Mỏ Gấu Trắng chỉ chịu ảnh hưởng của pha tách giãn muộn (pha tách giãn thứ hai) và quá trình lún chìm nhiệt, ñây là yếu tố vô cùng quan trọng trong việc hình thành bẫy và tích tụ dầu khí của mỏ.
Đặc ñiểm các thành tạo ñịa chất Thành tạo trước Kainozoi: Đây là tầng ñá móng magma. Đá móng bể Nam Côn Sơn không ñồng nhất, bao gồm: granit, granodiorit, diorit và ñá biến chất, tuổi có thể là Jura muộn – Creta. Các thành tạo Kainozoi: Thống Oligocene, hệ tầng Cau: trầm tích bao gồm chủ yếu các lớp cát kết có màu xám xen các lớp sét bột kết màu nâu. Các tập cát kết hệ tầng Cau có khả năng chứa trung bình, tuy nhiên chất lượng ñá chứa biến ñổi mạnh theo chiều sâu và theo khu vực tùy thuộc môi trường trầm tích và mức ñộ biến ñổi thứ sinh.
Trầm tích ñược lắng ñọng trong môi trường tam giác châu, vũng vịnh ñến biển ven bờ. Thống Miocene dưới, hệ tầng Dừa: bao gồm chủ yếu các lớp cát kết, bột kết, các lớp sét chứa vôi giàu vật chất hữu cơ hoặc các lớp than mỏng, ñôi khi có những lớp ñá vôi mỏng. Trầm tích ñược thành tạo trong môi trường từ tam giác châu ñến biển nông và biển nông ven bờ. Thống Miocene giữa, hệ tầng Thông – Mãng Cầu: phần dưới chủ yếu là cát kết thạch anh hạt mịn ñến trung, xi-măng carbonate, chứa glauconit, hóa thạch sinh vật xen kẹp sét kết, sét vôi.
Phần trên là các lớp ñá vôi (ñôi khi bị dolomite hóa) xen kẽ sét, bột, cát kết hạt mịn, xi-măng carbonate. Trầm tích phía Tây thành tạo trong môi trường châu thổ ñến rìa trước châu thổ, phía Đông môi trường thành tạo chủ yếu là biển nông trong thềm ñến giữa thềm. Thống Miocene trên, hệ tầng Nam Côn Sơn: phía Bắc và Tây-Tây Nam trầm tích chủ yếu là lục nguyên, bao gồm sét kết, sét vôi xen kẽ cát, bột kết; vùng Trung Tâm gồm trầm tích lục nguyên và carbonate xen kẽ; phía Đông, Đông-Nam thì ñá carbonate chiếm ưu thế. Hệ tầng Nam Côn Sơn ñược hình thành trong môi trường biển nông.
13 _____________________________________________________________________ Thống Pliocene – Đệ Tứ, hệ tầng Biển Đông: trầm tích gồm cát kết, bột kết xen lẫn sét kết nhiều vôi chứa nhiều glauconit và rất nhiều hóa thạch trùng lỗ, gắn kết hoặc bở rời. Hệ tầng ñược hình thành trong môi trường biển nông ven bờ, biển nông ñến biển sâu. Cột ñịa tầng tổng hợp bể Nam Côn Sơn 14 _____________________________________________________________________ 1. Đặc ñiểm hệ thống dầu khí 1.
Đá sinh Trầm tích tuổi Miocene sớm và Oligocene có khả năng sinh dầu khí, thuộc loại ñá mẹ trung bình ñến tốt. Đặc biệt thành tạo sét than tuổi Oligocene thuộc loại ñá mẹ giàu vật chất hữu cơ. Với dạng kerogen loại III là chủ yếu, lại lắn ñọng trong môi trường lục ñịa, ñá mẹ ở bể trầm tích Nam Côn Sơn có khả năng sinh khí – condensate rất cao, mặc dù môi trường phân hủy vật chất hữu cơ là thuận lợi: khử yếu và khử. Đá chứa Đá chứa dầu khí trong bể Nam Côn Sơn bao gồm móng phong hóa nứt nẻ trước Đệ Tam, cát kết Oligocene, Miocene, Pliocene dưới và ñá carbonate Miocene giữa – Miocene trên.
Đá chứa móng nứt nẻ phong hóa trước Kainozoi Theo các tài liệu hiện có, ñá nứt nẻ phong hóa của móng trước Kainozoi mới ñược phát hiện ở các giếng khoan ở mỏ Đại Hùng bao gồm granit, granodiorit, ryolit, chúng ñặc trưng bở ñộ nứt nẻ thay ñổi khá lớn tuy còn thiếu số liệu ñể xác ñịnh. Đới phong hóa nứt nẻ của móng phát triển dọc theo các ñứt gãy có thể ñược dự ñoán theo tài liệu ñịa chấn 3D. Đá chứa cát kết tuổi Oligocene Đá chứa cát kết tuổi Oligocene ñã ñược phát hiện ở tại giếng khoan lô 12, lô 05 chứa sản phẩm dầu nhẹ, condensat và khí. Các hạt vụn tiếp xúc với nhau chủ yếu theo kiểu tiếp xúc thứ sinh (>60%).
Đá rắn chắc, ñặc xít, hệ số chặt xít cao, dao ñộng từ 0,75÷0,85, ñộ rỗng phổ biến từ 12÷16%, ñộ thấm từ 0,1÷1,0mD (ñới nâng lô 12) và dự kiến có thế thấp hơn nhiều ở phần trung tâm và Đông – Đông Bắc (lô 04 và 05). Tại các giếng khoan 12A-1X, Dừa 15 _____________________________________________________________________ -1X và Dừa 2X phát hiện các vỉa chứa có bề dày biến ñổi từ 2÷80m, thường gặp từ 15÷25m. Tỷ số cát trên toàn bộ lát cắt dao ñộng từ 25÷35%. Đá chứa Miocene và Miocene muộn – Pliocene Trầm tích Miocene dưới của bể Nam Côn Sơn ñược thành tạo chủ yếu trong ñiều kiện delta và biển ven bờ (phần Tây, Tây Nam), biển nông, thềm nông (phần lô 12, 05, 04) và thềm sâu (outer-sublitoral) phần Trung tâm và Đông, Đông Bắc.
Trầm tích Miocene giữa ñược thành tạo chủ yếu trong ñiều kiện thềm nông, riêng phía Tây, Tây Nam gặp trầm tích sườn delta.