Đặt vấn đề và trình bày mục đích nghiên cứu, ý nghĩa, giới hạn và bố cục của đề tài. Chương 2: Cơ sở lý thuyết Trình bày cơ sở lý thuyết về nhà máy nhiệt điện, nguyên lý hoạt động máy phát MHD, LMMHD và phân tích động học của chu trình phát điện tuabin khí. Chương 3: Phân tích chu trình Trên cơ sở mô hình nhiệt điện, xây dựng và phân tích mô hình hệ thống phát điện dùng từ thủy động lực kết hợp nhiệt điện. Chương 4: Tính toán và mô phỏng Tính toán mô hình mô hình hệ thống phát điện dùng từ thủy động lực kết hợp nhiệt điện ra các thông số cụ thể, mô phỏng thông số của các khối.
Chương 5: Kết luận Đánh giá kết quả và trình bày hướng nghiên cứu tiếp theo của đề tài. Trang 8 Luan van Báo cáo chuyên đề HVTH: Đoàn Trung Tắng CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2.1 Nhà máy nhiệt điện 2.1 Nguyên lý hoạt động nhà máy nhiệt điện Nguyên lý chung của các nhà máy nhiệt điện: nhiên liệu hóa thạch (than, dầu hoặc khí) được đưa vào buồng đốt. Nhiệt tỏa ra do phản ứng đốt cháy nhiên liệu sẽ được cấp cho lò hơi. Khí thải từ quá trình đốt được kiểm soát về sự ô nhiễm.
Hơi được ngưng tụ và bơm tuần hoàn trở lại lò hơi [1]. Tốc độ turbine hơi được điều chỉnh bằng van hơi. Động năng của turbine hơi sẽ kéo máy phát điện.1: Sơ đồ khối nhà máy nhiệt điện sử dụng nguyên liệu hóa thạch 2.2 Các loại nhà máy nhiệt điện 2.1 Nhà máy nhiệt điện ngưng hơi Nhà máy nhiệt điện ngưng hơi (hình 2.2) chỉ làm nhiệm vụ sản xuất điện năng, nghĩa là toàn bộ năng lượng nhiệt có được từ quá trình đốt nhiên liệu chỉ dùng để sản xuất điện. Đây là dạng nhà máy nhiệt điện phổ biến nhất đang sử dụng[1].
Nhiên liệu khí tự nhiên mang lại hiệu quả kinh tế cao do giảm khoảng 20% chi phí xây dựng nhà máy vì các khâu cung cấp và xử lý nhiên liệu đồng thời vận hành Trang 9 Luan van Báo cáo chuyên đề HVTH: Đoàn Trung Tắng cũng đơn giản hơn. Hiệu suất của nhiệt điện khí cũng cao hơn so với nhiệt điện than khoảng 4 đến 5% do giảm được tổn thất nhiệt. Nhiệt điện khí ít ô nhiễm môi trường hơn nhiệt điện than và dễ vận chuyển hơn do sử dụng đường ống dẫn khí.2: Sơ đồ nguyên lý nhà máy nhiệt điện dùng than [1] Than từ kho chứa nhiên liệu (1) qua hệ thống vận chuyển nhiên liệu (2) để vào bộ sấy (3) sau đó đưa vào lò hơi (4). Trong lò hơi (4) xảy ra phản ứng cháy, năng lượng chuyển hóa thành nhiệt năng của hơi nước.
Khói từ lò hơi qua bộ hâm nước (14), bộ sấy không khí (15) quạt khói (16) đẩy khói vào ống khói thải ra ngoài. Nước từ bình khử khí (11) được bơm qua bơm (12) bơm qua bình gia nhiệt cao áp (13), bộ Trang 10 Luan van Báo cáo chuyên đề HVTH: Đoàn Trung Tắng hâm nước (14) vào lò hơi (4). Trong lò hơi, nước nhận nhiệt từ phản ứng cháy biến thành hơi áp suất cao (p=130 atm đến 240 atm; t=5500C đến 6500C). Hơi nước ra khỏi lò được đưa vào turbin hơi 5.
Tại turbin, nhiệt năng của hơi nước biến thành cơ năng quay turbin. Sau đó áp suất và nhiệt độ hơi giảm xuống. Hơi sau khi qua khỏi turbin có áp suất và nhiệt độ thấp (p=0,03 atm đến 0,04 atm; t=300C đến 400C) được đưa vào bình ngưng hơi (7). Nước từ bình ngưng (7) được bơm qua bơm (9) trở lại bình khử khí (11) qua bình gia nhiệt hạ áp (10).
Một phần hơi nước trích từ turbin để cung cấp cho bình gia nhiệt cao áp (13), bình khử khí (11) và bình gia nhiệt hạ áp (10). Nhiệt điện ngưng hơi có các đặc điểm quan trọng sau: - Công suất lớn, thường được xây dựng gần nguồn nhiên liệu. - Điện năng sản xuất ra chủ yếu tải lên mạng truyền tải. - Có thể làm việc với dải phụ tải rộng.
- Thời gian khởi động lâu (3 đến 10h). Nhà máy dùng khí có thời gian khởi động nhỏ nhất kế đến là dầu và than. - Hiệu suất nhà máy nhiệt điện ngưng hơi thấp, thông thường 30 đến 35%. Một số nhà máy hiện đại có thể đạt đến 42%.
- Lượng điện tự dùng nhà máy lớn (3 đến 15%). - Vốn xây dựng nhỏ hơn thủy điện và thời gian xây dựng nhỏ hơn. - Gây ô nhiễm môi trường xung quanh. Để tăng hiệu suất người ta cố gắng tăng thông số hơi nước và công suất các tổ máy.
Hiện nay thường sử dụng phổ biến các tổ máy 300, 500 và 800MW có nơi tổ máy đạt đến 1200MW.2 Nhà máy nhiệt điện trích hơi Nhà máy nhiệt điện trích hơi vừa sản xuất điện năng vừa cung cấp nhiệt cho các phụ tải nhiệt xung quanh. Nguyên lý làm việc của nhiệt điện trích hơi cơ bản cũng giống như nhiệt điện ngưng hơi (hình 2.2) nhưng có một phần hơi nước trích ra từ tầng trung áp và cao áp của turbin cấp cho bên ngoài. Một phần hơi nước trích từ các tầng sau đến bộ hâm Trang 11 Luan van Báo cáo chuyên đề HVTH: Đoàn Trung Tắng nước (18) để đun nóng nước cung cấp nước nóng cho bên ngoài theo nhu cầu. Nước sau khi sử dụng bên ngoài được đưa trở lại bộ hâm nước (18) qua bơm nước (20).
Hơi nước trích từ turbin, sau khi đi qua bộ hâm nước (18) được đưa vào bình khử khí qua bơm (19). Nhà máy nhiệt điện trích hơi có hiệu suất tổng cộng cao hơn nhiệt điện ngưng hơi do tận dụng phụ tải nhiệt. Có khi hiệu suất đạt đến 70% trong trường hợp có nhiều phụ tải nhiệt xung quanh. Các đặc điểm quan trọng của nhà máy nhiệt điện trích hơi là: - Nhà máy thường được xây dựng gần hộ tiêu thụ nhiệt.
- Nhà máy có công suất tùy thuộc vào nhu cầu phụ tải nhiệt và thông thường là không lớn và phổ biến là 300 đến 500MW. - Phần lớn điện năng phát ra cấp cho tải ở dạng điện áp phát và điện áp nhỏ nên máy phát thường sử dụng thanh góp. - Đồ thị phụ tải của nhà máy phụ thuộc vào phụ tải nhiệt.3 Turbin khí Turbin khí hiện đại tích hợp công nghệ cao gồm bộ nén, bộ đốt, turbin và máy phát (hình 2.3a: Sơ đồ nguyên lý nhiệt điện dùng turbin khí chu trình đơn Trang 12 Luan van Báo cáo chuyên đề HVTH: Đoàn Trung Tắng Hình 2.3b: Sơ đồ nguyên lý nhiệt điện dùng turbin khí chu trình kết hợp Ở turbin khí chu trình đơn (hình 2.3 a) có một phần lớn là nơi chứa khí nén ở áp suất cao nhiều tầng áp được đốt từ buồng đốt đưa ra ngay cánh turbin để quay máy phát điện. Như vậy khí đốt trực tiếp đẩy trực tiếp vào cánh turbin thay vì phải truyền nhiệt qua nước hoặc hơi.
Các turbin thiết kế sau này có nhiệt độ đốt khoảng 15000 C và hệ số áp suất là 30:1, cho hiệu suất nhiệt là 35% với các turbin đơn. Chu trình kết hợp bao gồm chu trình nhiệt động Rankine (turbin hơi) và Brayton (turbin khí) bằng cách sử dụng nồi thu hồi nhiệt để lấy năng lượng trong turbin khí xả cấp cho turbin hơi (hình 2. Các nhà máy điện đốt nhiên liệu hóa thạch sử dụng hơi nước hoặc turbin khí cung cấp năng lượng cơ làm quay máy phát điện. Nhiệt độ và áp suất cao của hơi nước hoặc khí đốt chuyển qua nhiều tầng quay của turbin làm quay turbin.
Turbin là dạng có nhiều cánh ghép lại nối mới máy phát điện.4 Điện nguyên tử Thực chất nhà máy điện nguyên tử cũng là một nhà máy nhiệt điện (hình 2. Có hai dạng nhà máy: một vòng tuần hoàn nước (hình 2.4 a) và hai vòng tuần hoàn nước (hình 2. Trang 13 Luan van Báo cáo chuyên đề HVTH: Đoàn Trung Tắng Trong đó lò hơi được thay thế bằng lò phản ứng hạt nhân và bộ trao đổi nhiệt (Containment building). Nguồn phát ra năng lượng điện vẫn là turbin hơi và máy phát điện turbin hơi.
Trong quá trình làm việc, lò phản ứng hạt nhân phát ra các tia phóng xạ nguy hiểm với cơ thể người như gamma. Để giảm bớt nguy hiểm thì lò phản ứng hạt nhân được bao bọc bởi các lớp đặc biệt: nước dày 1m, bê tông dày 3m và gang dày 0,25m. Nước của mạch vòng đầu tiên chạy qua lò phản ứng sẽ nhiễm các chất phóng xạ, nước mạch vòng thứ 2 hầu như không nhiễm phóng xạ và con người có thể tiếp xúc được.4: Sơ đồ khối nhà máy điện nguyên tử Trang 14 Luan van Báo cáo chuyên đề HVTH: Đoàn Trung Tắng Hình 2.5: Nhà máy điện nguyên tử tại Mỹ Lượng nhiên liệu sử dụng trong nhà máy điện nguyên tử nhỏ hơn so với nhiệt điện rất nhiều. Ví dụ để sản xuất 120MWh điện năng chỉ cần khoảng 30g uranium, nếu tính than thì cần 100 đến 110 tấn than.
Năng lượng của 1kg Uranium tương đương 2700 tấn than tiêu chuẩn.3 Tiềm năng nhiệt điện ở Việt Nam Việt Nam nằm trong 5 nước ở Đông Nam Á (Indonesia, Thái Lan, Malaysia…) đang ở giai đoạn 2, tốc độ phát triển cao, nhu cầu điện năng rất lớn, tăng trưởng sản lượng điện trung bình hàng năm đều trên 2 con số. Dự báo nhu cầu điện thương phẩm nước ta những năm tới (2020, 2025, 2030) tương ứng 235 tỷ kWh, 352 tỷ kWh, 506 tỷ kWh. Trong khi đó tiềm năng năng lượng trong nước cho sản xuất điện, thủy điện vừa và lớn cơ bản đã khai thác hết, tổng công suất đưa vào cân đối khoảng 20.000 MW, điện sản xuất trên 70 tỷ kWh. Các nguồn năng lượng khác tương đối hạn chế.
Tổng công suất nhiệt điện khí cũng khoảng trên 12.000 MW với sản lượng điện 63 tỷ kWh. Các nguồn năng lượng tái tạo như thủy điện nhỏ, điện gió, điện mặt trời chiếm hơn 27.000 MW với tỷ trọng 21% vào năm 2030. Nước ta cũng đã dừng điện hạt nhân. Chính vì vậy, nhiệt điện than (NĐT) đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo an ninh năng lượng.
Theo quy hoạch, đến 2020, tổng công suất nhiệt điện than khoảng 26.000 MW, chiếm 49% điện sản xuất; tương tự năm 2025 đạt khoảng 47.000 MW, chiếm 55%; năm 2030 đạt khoảng hơn 55. Đặc biệt, vốn đầu tư không quá cao, tương đương 1.500 USD/kWh, thấp hơn thủy điện, điện mặt trời, điện gió, điện hạt nhân. Trong khi khả năng huy động công suất lớn khoảng 6.500 giờ/năm, có thể tới 7.500 giờ/năm khi thiếu hụt, sản lượng điện phát ra lớn, đáp ứng nhu cầu điện năng trong giai đoạn phát triển kinh tế cao như hiện nay ở nước ta.