Chương 1: Giới thiệu chung Chương 2: Cơ sở lý thuyết và phương pháp luận nghiên cứu Chương 3: Phân tích bộ chỉ số đo lường hiệu suất bảo trì hiện tại và phương pháp xây dựng hệ thống đo lường hiệu suất bảo trì mới 4 Chương 4: Xây dựng bộ chỉ số mới đo lường hiệu suất bảo trì, đánh giá và ứng dụng thực tế Chương 5: Kết luận và kiến nghị 5 CHƯƠNG 2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ PHƯƠNG PHÁP LUẬN NGHIÊN CỨU 2. Hoạt động bảo trì 2. Giới thiệu Trong khoảng nhiều năm trở lại đây, hoạt động bảo trì ngày càng trở nên quan trọng đối với hoạt động kinh doanh, sản xuất.
Đây là kết quả của việc cơ sở vật chất, thiết bị sản xuất ngày càng tinh vi và phức tạp. Bảo trì là một tính năng cực kỳ quan trọng của kinh tế, kinh phí được phân bổ cho hoạt động bảo trì ngày càng lớn và tăng theo từng năm. Hoạt động bảo trì kém hiệu quả có thể dẫn đến chi phí phát sinh cao do thiết bị, máy móc ngừng hoạt động. Lợi ích và tầm quan trọng của bảo trì Hoạt động bảo trì đóng một vai trò rất quan trọng, cũng như nhiều hoạt động khác ở trong một nhà máy sản xuất.
Các hoạt động bảo trì hệ thống phải được xem xét cẩn thận bởi vì các hoạt động này có thể có ảnh hưởng lớn đến hiệu suất tổng thể. Do đó, làm thế nào để hoạt động bảo trì diễn ra một cách tối ưu phải được cẩn thận xem xét và gắn liền với kiểm soát chi phí bảo trì. Tầm quan trọng của bảo trì còn được quan tâm trong cách phát triển và thực hiện các chiến lược bảo trì tối ưu để cải thiện độ tin cậy của hệ thống, giảm bớt tần suất xảy ra lỗi hệ thống và giảm chi phí bảo trì. Một hệ thống bảo trì tốt có thể tạo ra nhiều lợi ích khác như: • Tăng mức độ khả dụng của thiết bị.
• Tăng độ an toàn cho nhân viên vận hành máy móc. • Tăng độ tin cậy, mất ít thời gian hơn trong sửa chữa, ít gián đoạn hoạt động sản xuất. • Giảm tỉ lệ lỗi chất lượng sản phẩm. • Khả năng giảm chi phí vận hành nếu bảo trì được tiến hành thường xuyên.
• Nhịp sản xuất được duy trì, tuổi thọ của thiết bị được kéo dài, giảm hao mòn hoặc xuống cấp. • Giá trị của thiết bị được nâng cao, cơ sở vật chất được duy trì tốt. 6 Các lợi ích của bảo trì chứng minh rằng khi có kế hoạch bảo trì tốt và được thực hiện khoa học thì hoạt động bảo trì hệ thống trở nên cực kỳ quan trọng đối với hoạt động sản xuất, góp phần giúp hoạt động sản xuất trở nên lành mạnh và hiệu quả. Các hình thức bảo trì Trong tài liệu, các tác giả khác nhau đã phân loại bảo trì theo các mô hình khác nhau dựa trên yêu cầu và quá trình của hoạt động bảo trì, trong đó White (1979) phân loại bảo trì theo các chiến lược khác nhau.1 Phân loại bảo trì theo các chiến lược khác nhau (White 1979) ➢ Bảo trì không có kế hoạch Đây loại hình bảo trì nền tảng và đơn giản.
Trong loại hình bảo trì này, việc sửa chữa hoặc thay thế chỉ được thực hiện khi hỏng hóc xảy ra. Loại hình này phù hợp với một hệ thống có ít hoặc không có tỷ lệ rủi ro và không quan tâm đến chi phí cũng như hậu quả khi dừng máy bất chợt. Loại hình bảo trì này đòi hỏi quá trình phản ứng nhanh với các sự cố phát sinh, phụ tùng thay thế luôn sẵn sàng và nhân viên bảo trì được 7 chuẩn bị tốt, có các yêu cầu cần thiết về kỹ năng và sẵn sàng cho sửa chữa thiết bị ngay lập tức đề khôi phục sản xuất. ➢ Bảo trì có kế hoạch Bảo trì có kế hoạch bao gồm tất cả các hoạt động cần thiết để lập kế hoạch, kiểm soát và ghi lại tất cả công việc đã thực hiện liên quan đến việc duy trì các tiêu chuẩn ban đầu.
Bảo trì có kế hoạch trở nên phổ biến hơn khi nó đã được công nhận rằng lỗi thiết bị có thể được ngăn chặn. Thiết bị hư hỏng dẫn đến tốn nhiều chi phí và thời gian sửa chữa hơn. Trong đó lập kế hoạch bảo trì bao gồm dự đoán, bảo dưỡng khắc phục, đại tu theo kế hoạch, thay thế theo kế hoạch, chuẩn bị phụ tùng. Các nhân tố ảnh hưởng đến bảo trì Các nhân tố ảnh hưởng đến bảo trì được chia thành hai loại chính, những nhân tố có thể kiểm soát để giảm chi phí bằng cách áp dụng các kỹ thuật tối ưu hóa và các nhân tố không kiểm soát được, các chi phí không được kiểm soát nhưng có thể được tối ưu hóa ở một mức độ nào đó theo những hạn chế nhất định.
Lập kế hoạch bảo trì là một trong những nhân tố chính ảnh hưởng đến kế hoạch bảo trì và chi phí. Do nhu cầu về hoạt động bảo trì thay đổi theo từng giai đoạn nên điều quan trọng là kế hoạch bảo trì phải bám sát và biết biến đổi theo từng quá trình, có phương án dự phòng phù hợp. Chiến lược bảo trì thường được lựa chọn theo chính sách từ ban lãnh đạo và những quyết định quan trọng trong sản xuất. Chiến lược bảo trì được tiếp cận theo hai hình thức chính là: cách tiếp cận phản ứng và cách tiếp cận chủ động.
Các cách tiếp cận chiến lược bảo trì được áp dụng ở mọi nơi nhưng chỉ một số mang lại kết quả tối ưu. Vì vậy, lựa chọn chiến lược bảo trì phù hợp là một yếu tố quan trọng trong lập kế hoạch bảo trì vì nó có thể có tác động đến tổng thể chi phí bảo trì. Nhân lực cũng là một trong những nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động bảo trì. Nhân lực nhiều có thể dẫn đến việc tăng trực tiếp chi phí bảo trì nhưng trên khía cạnh khác nó có thể giảm chi phí bảo trì thông qua giảm thời gian sửa chữa và tỉ lệ ngừng máy, tăng độ tin cậy và tối ưu thiết bị sản xuất.
Một yếu tố khác cần được xem xét là đào tạo nguồn nhân lực, vì đào tạo tốt có thể mang lại cho nhân viên tự tin hơn khi làm việc với máy mới và giảm sai sót trong quá trình bảo trì. Các nghiên cứu liên quan Tầm quan trọng của các chỉ số đo lường hiệu suất bảo trì đã được thảo luận nhiều qua các tác giả Nakajima (1988), Arts (1998), Campbell (1995), Dwight (1995), Coetzee (1997), Weber và Thomas (2006), Parida (2007), Muchiri (2010)… ➢ Nghiên cứu của Nakajima (1988): Khái niệm Bảo trì năng suất toàn diện (TPM) (Nakajima 1988), ra mắt vào những năm 1980, cung cấp một thước đo định lượng được gọi là Hiệu suất tổng thể thiết bị (OEE) để đo lường năng suất và hiệu quả vận hành của một tài sản máy móc thiết bị. OEE giúp nhận thấy những vấn đề trong sử dụng và bảo trì tài sản, xác định phần trăm thời gian sản xuất thực sự hiệu quả và là thước đo tiêu chuẩn để theo dõi tiến trình khắc phục các vấn đề này. Điều này hỗ trợ việc nâng cao hiệu quả của thiết bị và do đó nâng cao năng suất.
Khái niệm OEE ngày càng trở nên phổ biến và đã được sử dụng rộng rãi như một công cụ định lượng cần thiết cho đo lường hiệu suất thiết bị trong các ngành công nghiệp. [2] ➢ Nghiên cứu của Arts (1998): Arts (1998) sử dụng thời gian để phân loại các Chỉ số hiệu suất bảo trì thành ba cấp độ cụ thể là: Hoạch định chiến lược, Kiểm soát chiến thuật, Kiểm soát hoạt động. Trong đó Hoạch định chiến lược là quá trình ra quyết định dẫn đến việc hình thành các chiến lược của một đơn vị tổ chức hoặc tổ chức. Các mục tiêu cần đạt được và các phương tiện để đạt được những mục tiêu được phát triển.
Đối với chức năng bảo trì, chiến lược cục bộ được suy ra từ chiến lược của công ty, chức năng sản xuất và yêu cầu thiết kế của các đơn vị sản xuất. Lý thuyết Chi phí vòng đời sản phẩm được sử dụng để ước tính tất cả các yếu tố chi phí bảo trì trong suốt vòng đời sản phẩm và hổ trợ trong việc lựa chọn hoặc ra quyết định thiết kế. Kiểm soát chiến thuật bao gồm tất cả các quyết định góp phần vào việc hoạch định chính sách liên quan đến việc sử dụng hiệu quả nguồn lực. Điều này dẫn đến việc phân loại bảo trì dựa trên mức độ khẩn cấp của nó (thời gian thực hiện bảo trì) và ảnh hưởng của chức năng sản xuất đối với việc lập lịch bảo trì.
Ở cấp độ này tính linh hoạt bị hạn chế vì phụ thuộc vào 9 khối lượng công việc và khả năng đáp ứng công việc bảo trì. Kiểm soát hoạt động là quá trình ra quyết định nhằm thực hiện có hiệu quả các hoạt động cụ thể (Hình 2.2 MPM theo đề xuất của Arts (1998) Nó liên quan đến việc phân bổ ngắn hạn năng lực bảo trì cho các nhu cầu bảo trì thể hiện qua các Lệnh công tác. Các quyết định liên quan đến việc bảo trì ngay lập tức hay để sau, sửa chữa hay thay thế, sử dụng nhà thầu hoặc làm việc ngoài giờ được xem xét tập trung vào các chỉ số hiệu suất trong hệ thống kiểm soát bảo trì. Cấp độ kiểm soát hoạt động được phân chia thành các nhóm: Lệnh công tác,Kho, Thu mua, Lịch sử và phân tích, Lập kế hoạch, Chọn công việc, Thực hiện công việc và báo cáo như hình 2.
[3] ➢ Nghiên cứu của Campbell (1995): Campbell (1995) phân loại các chỉ số hiệu suất bảo trì thành ba loại dựa trên trọng tâm của chúng (Hình 2.3 MPM theo đề xuất của Campbell (1995) Mỗi trọng tâm là tập hợp các chỉ số đo lường khác nhau trong đó, trọng tâm Thiết bị bao gồm các chỉ số như: Khả dụng, Khả năng bảo trì… Trọng tâm Chi phí bao gồm: Nhân công, Vật liệu, Dịch vụ… và cuối cùng là trọng tâm Quy trình bao gồm: Kế hoạch/Không kế hoạch, Tuân thủ lịch trình, Lệnh công tác…(hình 2. [4] ➢ Nghiên cứu của Dwight (1995): Dwight (1995) phân loại các chỉ số đo lường hiệu suất thành một hệ thống phân cấp theo các giả định tác động của hệ thống bảo trì đối với hoạt động kinh doanh.