Luận án nghiên cứu ứng dụng công nghệ bơm ép luân phiên nước khí hydrocacbon nhằm nâng cao hệ số thu hồi dầu tại tầng miocen bể cửu long

Luận án nghiên cứu ứng dụng công nghệ bơm ép luân phiên nước khí hydrocacbon nhằm nâng cao hệ số thu hồi dầu tại tầng Miocen bể Cửu Long.

Chuyên ngành

Kỹ thuật dầu khí

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án

2023

147
8
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN

1.1. Khái quát về nâng cao hệ số thu hồi dầu

PHỤ LỤC

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tính cấp thiết của nghiên cứu

Nghiên cứu về hệ số thu hồi dầu tại tầng Miocen bể Cửu Long là rất quan trọng trong bối cảnh nguồn tài nguyên dầu khí ngày càng cạn kiệt. Khai thác dầu hiện nay chủ yếu dựa vào các mỏ có trữ lượng lớn, nhưng số lượng mỏ mới phát hiện ngày càng giảm. Điều này dẫn đến việc nâng cao hệ số thu hồi dầu (Enhanced Oil Recovery - EOR) trở thành một nhiệm vụ cấp thiết. Theo thống kê, hiện tại chỉ có khoảng 20-32% dầu tại chỗ được thu hồi, trong khi hơn 70% vẫn chưa được khai thác. Việc áp dụng công nghệ bơm ép nước và khí hydrocacbon là một trong những giải pháp khả thi để tăng cường tầng cường thu hồi dầu. Việc nghiên cứu và ứng dụng công nghệ này không chỉ giúp tăng sản lượng khai thác mà còn góp phần vào sự phát triển bền vững của ngành dầu khí Việt Nam.

II. Công nghệ bơm ép luân phiên nước khí

Công nghệ bơm ép luân phiên nước - khí là một phương pháp tiên tiến nhằm tối ưu hóa quá trình thu hồi dầu. Phương pháp này cho phép kết hợp giữa nước và khí hydrocacbon để duy trì áp suất trong mỏ, từ đó tăng cường khả năng thu hồi dầu. Nghiên cứu cho thấy rằng việc áp dụng công nghệ bơm ép này có thể cải thiện đáng kể hệ số thu hồi dầu tại tầng Miocen. Các mô hình mô phỏng cho thấy rằng việc điều chỉnh tỷ lệ bơm nước và khí có thể tạo ra hiệu ứng tích cực trong việc đẩy dầu ra khỏi các khe nứt trong đá chứa. Điều này không chỉ giúp tăng sản lượng mà còn giảm thiểu chi phí khai thác, từ đó nâng cao hiệu quả kinh tế cho các dự án dầu khí.

III. Đánh giá hiệu quả và ứng dụng thực tiễn

Đánh giá hiệu quả của phương pháp bơm ép luân phiên nước - khí cho thấy rằng nó có thể nâng cao hệ số thu hồi dầu lên đến 5-10% so với các phương pháp truyền thống. Việc áp dụng công nghệ này tại các mỏ thuộc bể Cửu Long đã cho thấy những kết quả khả quan. Các nghiên cứu thực nghiệm cho thấy rằng tầng địa chất và tính chất của chất lưu trong mỏ có ảnh hưởng lớn đến hiệu quả của phương pháp này. Do đó, việc nghiên cứu kỹ lưỡng các yếu tố này là cần thiết để tối ưu hóa quy trình khai thác. Kết quả nghiên cứu không chỉ có giá trị lý thuyết mà còn có thể được áp dụng thực tiễn, góp phần nâng cao hiệu quả khai thác dầu khí tại Việt Nam.

IV. Kết luận và khuyến nghị

Nghiên cứu về nâng cao hệ số thu hồi dầu tại tầng Miocen bể Cửu Long bằng công nghệ bơm ép luân phiên nước - khí hydrocacbon đã chỉ ra rằng đây là một giải pháp khả thi và hiệu quả. Việc áp dụng công nghệ này không chỉ giúp tăng sản lượng khai thác mà còn đảm bảo tính bền vững cho ngành dầu khí. Khuyến nghị cho các nhà đầu tư và các công ty dầu khí là cần tiếp tục nghiên cứu và phát triển công nghệ này, đồng thời áp dụng các giải pháp tối ưu để nâng cao hiệu quả khai thác. Điều này sẽ góp phần quan trọng vào việc đảm bảo nguồn năng lượng cho tương lai.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN Khái quát về nâng cao hệ số thu hồi dầu Trước đây nâng cao hệ số thu hồi dầu (EOR) được định nghĩa chung là lượng dầu thu hồi gia tăng so với quá trình khai thác thông thường chỉ sử dụng năng lượng vỉa tự nhiên của của mỏ dầu khí. Với định nghĩa rất rộng này, EOR bao gồm rất nhiều các giải pháp khác nhau như bơm ép nước, bơm ép kiềm, bơm ép hợp chất hydrocarbon, bơm ép khí CO2, bơm ép hỗn hợp mixen (micellar)-polyme và các phương pháp nhiệt khác. Trong đó điển hình là việc áp dụng rộng rãi giải pháp bơm ép nước để gia tăng sản lượng [27]. Hiện nay các đánh giá EOR được xem xét trên nhiều khía cạnh: nguyên lý gia tăng thu hồi, tính kinh tế và giai đoạn áp dụng trong đời mỏ thì giải pháp bơm ép nước và bơm ép khí để duy trì năng lượng vỉa đã được tách ra khỏi định nghĩa về các giải pháp nâng cao thu hồi dầu.

Quá trình bơm ép nước, bơm ép khí nhằm mục đích duy trì năng lượng vỉa được định nghĩa là quá trình thu hồi thứ cấp. Phương pháp nâng cao hệ số thu hồi dầu là giải pháp tam cấp (cuối cùng) và đóng vai trò quan trọng để gia tăng lợi nhuận tối đa cho khai thác mỏ dầu khí. Nâng cao hệ số thu hồi dầu được chia thành các loại: Giải pháp hoá học, giải pháp khí, giải pháp nhiệt và giải pháp khác (vi sinh, acoustic, điện từ) [49,32,69]. Trong đó các áp dụng trên thế giới tập trung chủ yếu trong 3 giải pháp hóa, khí và nhiệt (Hình 1.

➢ Giai đoạn thu hồi sơ cấp: là giai đoạn đầu tiên của đời mỏ dầu khí với việc sử dụng năng lượng tự nhiên của vỉa chứa để dịch chuyển dầu khí từ vỉa vào giếng và nâng chất lưu khai thác lên bề mặt. Ngoài ra, còn có sự hỗ trợ năng lượng từ cơ chế giãn nở của các thành phần nhẹ hoặc có sử dụng thiết bị bơm điện ngầm, gaslift trong các giếng khai thác. Khi năng lượng tự nhiên dần bị suy kiệt hoặc không đủ cung cấp với sản lượng khai thác ngày càng tăng theo kế hoạch phát triển mỏ và kịch bản khai thác thì giai đoạn khai thác thứ cấp sẽ được áp dụng [5,7].1: Tổng quan thu hồi dầu qua các giai đoạn khai thác ➢ Giai đoạn thứ cấp: là giai đoạn mà thông thường áp dụng bằng quá trình khai thác kết hợp với bơm ép nước hoặc bơm ép khí với mục đích duy trì năng lượng vỉa [37]. Sau một thời gian bơm ép, nước sẽ xâm nhập và chiếm tỷ phần chủ yếu trong các giếng khai thác gây cản trở dòng dầu từ vỉa chứa vào giếng khai thác.

Một số mỏ dầu khí không được tối ưu cho bơm ép thường có hiện tượng ngập nước sớm hoặc hiện tượng lưỡi nước trong vỉa do dòng nước bơm ép dịch chuyển nhanh dẫn đến dòng dầu không đến được giếng khai thác. Trong giai đoạn thu hồi dầu thứ cấp, bơm ép nước không có khả năng đẩy toàn bộ dầu ra khỏi đá chứa, do lực mao dẫn làm một phần dầu bị giữ lại. Mức độ dầu bị giữ lại ít nhất trong đá chứa có tính dính ướt nước. Độ bão hòa này phụ thuộc vào tính chất cấu trúc đá chứa, phân bố lỗ rỗng, tính chất lưu thể vỉa liên quan trực tiếp đến cơ chế vi mô của bẫy chứa, do vậy sẽ quyết định khả năng thu hồi dầu của quá trình bơm ép nước [22].

Do đó, kể cả những vỉa chứa có độ rỗng, độ thấm tốt, tính đồng nhất cao được phản ánh qua độ quét tương đối tốt thì độ bão hoà dầu dư (Sor) vẫn còn khoảng từ 15 - 40% trên tổng lượng 11 dầu trong đá chứa. Giảm độ bão hoà dầu dư và gia tăng hệ số quét của chất lưu bơm ép là mục tiêu quan trọng đối với thu hồi dầu tam cấp [32]. ➢ Giai đoạn tam cấp chính là giai đoạn nâng cao hệ số thu hồi dầu với các giải pháp chính là giải pháp hoá, giải pháp khí và giải pháp nhiệt. Các phương pháp nâng cao hệ số thu hồi dầu đều tuân theo nguyên lý cơ bản là nhằm gia tăng hệ số đẩy và hệ số quét của tác nhân bơm ép, nguyên lý xây dựng trên tương quan của độ nhớt hệ chất lưu vỉa - chất lưu bơm ép, trọng trường và áp suất mao dẫn [49].

Cơ sở lý thuyết và cơ chế nâng cao hệ số thu hồi dầu Các phương pháp nâng cao hệ số thu hồi đều tuân theo nguyên lý cơ bản là gia tăng hệ số đẩy và hệ số quét của tác nhân bơm ép [50], nguyên lý xây dựng trên tương quan của độ nhớt hệ chất lưu vỉa - chất lưu bơm ép, trọng trường và áp suất mao dẫn thể hiện qua các công thức cơ bản sau: Hình 1.2: Công thức tính các mối tương quan của các lực trong EOR Tăng hệ số đẩy dầu giúp khai thác thêm một phần dầu bị giữ trong các bẫy mao dẫn hoặc dầu dư còn lại trên bề mặt đá chứa ưa dầu. Hiệu quả đẩy dầu phụ thuộc lực nhớt, lực mao dẫn và lực trọng trường (hình 1. Tăng hệ số quét của chất lưu bơm ép giúp gia tăng khai thác dầu tại các vùng ít/không chịu ảnh hưởng của quá trình bơm ép nước thông thường (hình 1.3: Tỷ lệ linh động các pha và hệ số quét Cơ chế nâng cao hệ số thu hồi dầu được thể hiện qua quá trình đẩy dầu ra khỏi lỗ rỗng và đẩy dầu tại các vùng mà nước bơm ép chưa bao quát được bằng các hệ chất lưu đẩy hoặc bằng cách thay đổi tính chất của dầu tại chỗ. Cơ chế của các phương pháp nâng cao hệ số thu hồi dầu được định nghĩa bằng 02 quá trình cơ chế đẩy dầu vi mô và cơ chế đẩy dầu vĩ mô.

Cơ chế đẩy dầu vi mô và vĩ mô đều chịu ảnh hưởng của cấu trúc lỗ rỗng của đá, tính chất lưu thể vỉa, tính chất lưu thể bơm đẩy để nâng cao hệ số thu hồi dầu, cơ chế dòng chảy trong vỉa. Cấu trúc lỗ rỗng Mọi cơ giải pháp nâng cao hệ số thu hồi dầu đều liên quan đến cấu trúc lỗ rỗng của vỉa chứa. Hệ số đẩy và hệ số quét của tác nhân bơm ép/chất lưu bơm ép nhằm nâng cao hệ số thu hồi dầu đều phụ thuộc vào áp suất mao dẫn và độ linh động của chất lưu, các yếu tố này đều chịu ảnh hưởng và chi phối của cấu trúc lỗ rỗng. Cấu trúc lỗ rỗng gồm đường kính của các lỗ rỗng, hình thái của lỗ rỗng, cổ lỗ rỗng và phân bố các lỗ rỗng trong cấu trúc [20].

Chi tiết cấu trúc lỗ rỗng có thể được kiểm tra thông qua kính hiển vi điện tử (Wardlaw, 1976 [95]; Gardner, 1980 [54]). Trong những năm gần đây, ưu điểm quan trọng của mô hình môi trường rỗng sử dụng ứng dụng học thuyết thẩm thấu (Levine et al., 1977; Larson et al., 1981) Các nghiên cứu trên thế giới về gia tăng thu hồi dầu đã được tiến hành nhiều với mẫu lõi đá cát kết của mỏ Berea bởi vì nó sẵn có [20]. Quy trình thử nghiệm thiết kế trên các vỉa cụ thể, tuy nhiên các thử nghiệm với mẫu lõi chỉ tiến hành trong khu vực thử nghiệm [90]. 13 Đá Đá Đá Lỗ rỗng Lỗ rỗng Đá Đá Đá Cổ lỗ rỗng Hình 1.4: Cấu trúc lỗ rỗng 1.

Dòng chảy trong lỗ rỗng Định luật Darcy Dòng chất lưu trong môi trường rỗng của đất đá được nhà khoa học Darcy mô tả qua phương trình (1.1), đây là định luật cơ bản thể hiện khả năng dịch chuyển của chất lưu trong môi trường rỗng. Nó thể hiện mối quan hệ giữa chênh áp của một chất lưu không chịu nén chảy qua lỗ hổng có chiều dài là L và cắt qua tiết diện A. Tốc độ của dòng chảy phụ thuộc vào độ nhớt của chất lưu, tiết diện, chiều dài và chênh áp giữa hai đầu của môi trường rỗng [93]. Định luật Darcy được thể hiện như sau: µ𝑞𝐿 𝐾= (1.1) 𝐴𝑃 Trong đó : K - Độ thấm, Darcy P - Độ chênh áp suất giữa đầu và cuối mẫu, atm L - Chiều dài mẫu, cm A - Tiết diện mẫu, cm2 µ - Độ nhớt của chất lưu, cp q - Lưu lượng của chất lưu đi qua mẫu, cm3/sec 14 Dòng chảy đa pha trong môi trường rỗng Định luật Darcy áp dụng cho chế độ dòng chảy một pha, tuy nhiên trong thực tế, vỉa chứa dầu khí tồn tại nhiều hơn một loại chất lưu đồng thời (dầu, khí, nước) chảy tới giếng khai thác [104].

Chế độ của dòng chảy chất lưu trong môi trường đất đá có thể chia thành hai trường hợp là ổn định và không ổn định. Đối với chế độ chảy ổn định thì mọi vị trí trong dòng chảy đều có tính chất như nhau, tuy nhiên đối với chế độ chảy không ổn định thì ngược lại. Nhiều yếu tố ảnh hưởng đến dòng chảy đa pha như độ bão hoà chất lưu, tính dính ướt, lực mao dẫn, sức căng bề mặt và độ thấm pha tương đối. Độ linh động và tỷ số độ linh động của chất lưu Độ linh động là tỷ số giữa độ thấm và độ nhớt của chất lưu k/µ.

Khi dòng chảy chất lưu có hai pha như khí/dầu; dầu/nước; khí/nước đặc trưng chảy của chất lưu đa pha phụ thuộc vào tỷ suất giữa độ linh động M của mỗi chất lưu dầu, khí và nước. Khi một chất lưu bị một chất lưu khác đẩy tỷ số độ linh động được quy ước là tỷ suất linh động của chất lưu đẩy trên chất lưu bị đẩy [48]. Nếu tỷ số này lớn hơn 1, có nghĩa là sự đẩy này diễn ra không như ý muốn, thường là kết quả của hiện tượng phân toả dạng ngón hay có thể bị đánh thủng. Đối với những tỷ số độ linh động nhỏ hơn hoặc bằng 1 thì quá trình đẩy sẽ diễn ra như piston đẩy.

Ảnh hưởng của tỷ số độ linh động lên hiện tượng phân tỏa dạng ngón bằng cách đưa ra hàng loạt các dạng phân tỏa dạng ngón xảy ra với các giá trị tỷ số linh động khác nhau (Hình 1. Theo Stalkup (1983) công thức để tính toán tỷ số linh động cho bơm ép nước khí luân phiên khi có sự hiện diện của nước trong dầu vỉa (công thức 1.  Kg K   + w M = Chat−day = ( g + w )   g =  w  Swavg (1.2) Chat−bi−day (o + w )  K o K w    +     o w  Sowavg Trong đó: M : Tỷ số linh động trong bơm ép nước khí luân phiên. 15 λchat-day : Độ linh động của nước và khí.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Nghiên cứu ứng dụng công nghệ bơm ép luân phiên nước khí hydrocacbon để nâng cao hệ số thu hồi dầu tại tầng Miocen bể Cửu Long" tập trung vào việc áp dụng công nghệ bơm ép luân phiên nhằm tối ưu hóa quá trình thu hồi dầu trong ngành dầu khí. Nghiên cứu này không chỉ cung cấp những hiểu biết sâu sắc về kỹ thuật bơm ép mà còn chỉ ra những lợi ích tiềm năng trong việc nâng cao hiệu quả khai thác dầu, từ đó góp phần vào sự phát triển bền vững của ngành công nghiệp này. Đặc biệt, bài viết có sự tham gia của nhiều chuyên gia hàng đầu trong lĩnh vực kỹ thuật dầu khí, mang lại giá trị thực tiễn cao cho các nhà nghiên cứu và kỹ sư trong ngành.

Nếu bạn quan tâm đến các nghiên cứu liên quan đến công nghệ và ứng dụng trong lĩnh vực dầu khí, bạn có thể tham khảo thêm bài viết Nghiên Cứu Mô Hình Địa Chất 3D Cho Tầng Đá Móng Nứt Nẻ Tại Mỏ X Bồn Trũng Cửu Long, nơi cung cấp cái nhìn sâu sắc về mô hình địa chất trong khai thác dầu khí. Bên cạnh đó, bài viết Luận văn thạc sĩ về ứng dụng vật liệu nano oxit sắt từ trong xử lý crom vi trong nước thải cũng có thể mang lại những thông tin hữu ích về công nghệ vật liệu trong ngành dầu khí. Cuối cùng, bài viết Luận văn thạc sĩ: Nghiên cứu thành phần hóa học và hoạt tính kháng viêm của cây hầu vĩ tóc Uraria crinita có thể mở rộng thêm kiến thức về các ứng dụng sinh học trong công nghệ dầu khí. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các xu hướng và công nghệ mới trong ngành.