CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ DỊCH VỤ BƯU CHÍNH CHUYỂN PHÁT VÀ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ BƯU CHÍNH CHUYỂN PHÁT 1. Cơ sở lý luận về dịch vụ bưu chính chuyển phát 1.Khái niệm và đặc điểm cơ bản về dịch vụ 1. Khái niệm dịch vụ Dịch vụ là khái niệm được sử dụng rộng rãi trong các sách, công trình và tài liệu, được xuất bản công bố trong và ngoài nước. Khái niệm dịch vụ được hiểu theo nhiều ý nghĩa khác nhau với nội hàm rộng và hẹp.
Theo Từ điển Bách khoa Viêt Nam, “Dịch vụ là các hoạt động nhằm thoả mãn những nhu cầu sản xuất kinh doanh và sinh hoạt”. Có thể thấy khái niệm trên mới chỉ khái quát chung, chưa đi sâu vào nội hàm khái niệm dịch vụ.92] Adam Smith từng định nghĩa rằng, “dịch vụ là những nghề hoang phí nhất trong tất cả các nghề như cha đạo, luật sư, nhạc công, ca sĩ opera, vũ công,. Công việc của tất cả bọn họ tàn lụi đúng lúc nó được sản xuất ra”. Từ định nghĩa này, ta có thể thấy rằng Adam Smith có lẽ muốn nhấn mạnh đến khía cạnh “không tồn trữ được” của sản phẩm dịch vụ, tức là được sản xuất và tiêu thụ đồng thời.124- 125] Ngày nay, vai trò quan trọng của dịch vụ trong nền kinh tế ngày càng được nhận thức rõ hơn.
Karl Marx (Các Mác) cho rằng: “Dịch vụ là con đẻ của nền kinh tế sản xuất hàng hoá, khi mà kinh tế hàng hoá phát triển mạnh, đòi hỏi một sự lưu thông thông suốt, trôi chảy, liên tục để thoả mãn nhu cầu ngày càng cao đó của con người thì dịch vụ ngày càng phát triển.” Như vậy, với khái niệm trên, Các Mác đã chỉ ra nguồn gốc ra đời và sự phát triển của dịch vụ, kinh tế hàng hoá càng phát triển thì dịch vụ càng phát triển mạnh.89-90] Philip Kotler cho rằng: “Dịch vụ là mọi hành động và kết quả mà một bên có thể cung cấp cho bên kia và chủ yếu là vô hình và không dẫn đến quyền sở hữu một Luan van 8 cái gì đó. Sản phẩm của nó có thể có hay không gắn liền với một sản phẩm vật chất”. TS Nguyễn Văn Thanh cho rằng: “Dịch vụ là một hoạt động lao động sáng tạo nhằm bổ sung giá trị cho phần vật chất và làm đa dạng hoá, phong phú hoá, khác biệt hoá, nổi trội hoá,… mà cao nhất trở thành những thương hiệu, những nét văn hoá kinh doanh và làm hài lòng cao cho người tiêu dùng để họ sẵn sàng trả tiền cao, nhờ đó kinh doanh có hiệu quả hơn”. [18] Khi kinh tế càng phát triển thì vai trò của dịch vụ ngày càng quan trọng và dịch vụ đã trở thành đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khác nhau: từ kinh tế học đến văn hóa học, luật học, từ hành chính học đến khoa học quản lý.
Do vậy mà có nhiều khái niệm về dịch vụ theo nghĩa rộng hẹp khác nhau, đồng thời cách hiểu về nghĩa rộng và nghĩa hẹp cũng khác nhau. Trong bài luận văn trên, ta có thể thấy dịch vụ là hoạt động sáng tạo của con người, là hoạt động có tính đặc thù riêng của con người trong xã hội phát triển, có sự cạnh tranh cao, có yếu tố bùng phát về công nghê, minh bạch về pháp luật, minh bạch chính sách của chính quyền. Nhìn chung dịch vụ có một số đặc điểm chung được khái quát như sau: - Dịch vụ có tính cá nhận nên phải đúng đối tượng người được phục vụ thì dịch vụ mới được đánh giá có chất lượng - Dịch vụ phải có sự khác biệt hoá (bất ngờ, phù hợp) - Dịch vụ phải đi tiên phong để từng bước tạo ra sự khát vọng trong tâm trí của người tiêu dùng 1. Đặc điểm cơ bản của dịch vụ Theo Nguyễn Văn Thanh (2008), Bài giảng Marketing dịch vụ, Đại học Bách Khoa [18].
Dịch vụ có năm đặc điểm sau: Luan van 9 Tính vô Không hình chuyển giao sở hữu Dịch vụ Mau hỏng Không đồng nhất Không lưu trữ được Hình 1.1 Sơ đồ đặc điểm dịch vụ Nguồn: Nguyễn Văn Thanh (2008), Bài giảng Marketing dịch vụ - Tính vô hình: không tồn tại dưới dạng vật chất nghĩa là dịch vụ không có hình hài rõ rệt. Các dịch vụ đều vô hình, không thể thấy trước khi tiêu dùng - Tính không chia cắt được (không chuyển giao quyền sở hữu): Dịch vụ thường được sản xuất ra và tiêu dùng đồng thời hay nói cách khác quá trình sản xuất và quá trình tiêu dùng diễn ra đồng thời. Thiếu mặt này thì sẽ không có mặt kia. Nếu dịch vụ do một người thực hiện thì người cung ứng là một bộ phận của dịch vụ đó.
Điều này có nghĩa là hành động sản xuất và tiêu dùng diễn ra đồng thời với nhau, đòi hỏi cả nhà sản xuất và người tiêu dùng cùng tham gia tại địa điểm của nhà sản xuất. Vì vậy, không chia cắt được dịch vụ hay nói cách khác dịch vụ có tính không chuyển giao sở hữu. - Tính không ổn định, không đồng nhất: Không có chất lượng đồng nhất. Điều này cũng có nghĩa là hầu hết nhân viên của đơn vị cung cấp dịch vụ đều tiếp xúc với người tiêu dùng ở một mức độ nào đó và được kháchh hàng nhìn nhận như một phần không thể tách rời khỏi sản phẩm dịch vụ đó.
Chất Luan van 10 lượng nhiều dịch vụ được xác định bởi thái độ và hành vi của nhân viên mà không thể đưa ra được những bảo đảm thông thường cũng như không thể có sự ép buộc về pháp lý. Chẳng hạn không thể ép buộc nhân viên mỉm cười với khách hàng. - Tính không lưu trữ được: Không lập kho để lưu trữ như hàng hoá được hoạt động cung cấp dịch vụ thường được ấn định về mặt thời gian và không gian và có một công suất dịch vụ được ấn định ngày. Điều này có nghĩa là nếu không bán được công suất dịch vụ vào ngày đó thì doanh thu có thể thu được từ công suất dịch vụ này sẽ mất đi và không thu lại được.
Công suất chỉ trở nên hữu dụng khi khách hàng hiện diện tại địa điểm của nhà cung cấp dịch vụ. - Tính mau hỏng: Mỗi dịch vụ chỉ tiêu dùng một lần duy nhất, không lặp lại, dịch vụ bị giới hạn vởi thời gian và không gian. Ranh giới giữa hàng hoá và dịch vụ ngày càng mờ dần bởi các doanh nghiệp ngày càng đưa ra nhiều những hỗn hợp sản phẩm và dịch vụ để cạnh tranh trên thị trường. Khái niệm về dịch vụ bưu chính chuyển phát 1.
Các khái niệm về dịch vụ bưu chính chuyển phát Theo khoản 3 Điều 3 Luật Bưu chính số 49/2010/QH12 ngày 17/6/2010 có quy định: “Dịch vụ bưu chính là dịch vụ chấp nhận, vận chuyển và phát bưu gửi bằng các phương thức từ địa điểm của người gửi đến địa điểm của người nhận qua mạng bưu chính, trừ phương thức điện tử” [13]. Trong đó: - Bưu gửi bao gồm thư, gói, kiện hàng hoá được chấp nhận, vận chuyển và phát hợp pháp qua mạng bưu chính. - Người gửi là tổ chức, cá nhân có tên tại phần ghi thông tin về người gửi trên bưu gửi, trên hợp đồng cung ứng và sử dụng dịch vụ bưu chính. - Người nhận là tổ chức, cá nhân có tên tại phần ghi thông tin về người nhận trên bưu gửi, trên hợp đồng cung ứng và sử dụng dịch vụ bưu chính.
- Mạng bưu chính là hệ thống cơ sở khai thác bưu gửi, điểm phục vụ bưu chính được kết nối bắng các tuyến vận chuyển và tuyến phát để cung ứng Luan van 11 dịch vụ bưu chính. Ngoài ra, mạng bưu chính công cộng là mạng bưu chính do Nhà nước đầu tư và giao cho doanh nghiệp được chi địnhn quản lý, khai thác. Ngoài ra, một số khái niệm khác liên quan đến dịch vụ BCCP như sau: Túi thư: là túi đụng các bưu gửi của một hoặc nhiều loại dịch vụ, được một bưu cục đóng, chuyển cho một bưu cục khác Chuyến thư: là tập hợp các túi thư (cả gói và kiện rời) của một hoặc nhiều loại dịch vụ bưu chính do một bưu cục khai thác đóng, chuyển cho một bưu cục khác thác theo quy định của Tổng công ty. Mỗi chuyến thư được đánh số theo dõi trên phần mềm và sổ nghiệp vụ theo quy định tại bưu cục đóng chuyến thư và bưu cục nhận chuyến thư.
Đường thư: là một tuyến đường giao thông trên đó sử dụng một hoặc một số phương tiện vận chuyển nhất định để vận chuyển và giao nhận, trao đổi túi gói bưu chính với các địa điểm giao nhận được quy định trên mạng Bưu chính công cộng Dịch vụ Bưu chính cơ bản: Là dịch vụ bưu chính mà doanh nghiệp bưu chính cung cấp có hệ thống trong nước hoặc nước ngoài theo quy định của Tổ chức liên minh Bưu chính thế giới (UPU). Các dịch vụ bưu chính cơ bản bao gồm: Dịch vụ thư, bưu phẩm, bưu kiện, bưu chính ủy thác. Dịch vụ bưu chính công ích: là dịch vụ bưu chính được cung ứng theo yêu cầu của Nhà nước, gồm dịch vụ bưu chính phổ cập, dịch vụ bưu chính phục vụ quốc phòng, an ninh và nhiệm vụ đặc thù khác. Dịch vụ bưu chính phổ cập: là dịch vụ bưu chính được cung ứng thường xuyên đến người dân theo các điều kiện về khối lượng, chất lượng và giá cước do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định.
Điểm phục vụ bưu chính: là nơi bưu điện thực hiện việc chấp nhận, phát bưu gửi, gồm bưu cục, đại lý, thùng thư công cộng, điểm bưu điện văn hóa xã và các hình thức khác để chấp nhận, phát bưu gửi. Phân loại sản phẩm dịch vụ Bưu chính chuyển phát Phân loại theo nội dung: bao gồm dịch vụ Bưu chính cơ bản và dịch vụ Giá trị gia tăng. Dịch vụ bưu chính cơ bản bao gồm dịch vụ bưu phẩm thường (thư, bưu thiếp, ấn phẩm), bưu phẩm bảo đảm, bưu phẩm chuyển phát nhanh, bưu kiện. bưu chính uỷ thác… Dịch vụ giá trị gia tăng là các dịch vụ gia tăng có thể được thay đổi, bổ sung theo nhu cầu thị trường và khả năng đáp ứng của Bưu điện Việt Nam.
Phân loại theo mục tiêu: bao gồm dịch vụ bưu chính công ích và bưu chính kinh doanh Đặc điểm của dịch vụ bưu chính công ích: Do Nhà nước quy đinh và giao cho Bộ Thông tin và Truyền thông quản lý. Dịch vụ bưu chính công ích mang tính phổ cập, tính thống nhất về giá cước, chất lượng dịch vụ theo tiêu chuẩn. Đặc điểm của dịch vụ bưu chính kinh doanh do doanh nghiệp đề xuất về dịch vụ và được chính phủ phê duyệt.