mở đầu của âm tiết (bên cạnh phụ âm đầu). Ví dụ: chữ ”toàn” khi phát âm có hiện tượng tròn môi do tác động của âm đệm/-u-/, còn chữ ”tàn” thì không có hiện tượng tròn môi do không có âm đệm. Âm chính Là nguyên âm âm tiết tính trong âm tiết. Âm tiết chính có thể là một nguyên âm đơn hay nguyên âm đôi.
Âm chính gồm một hệ thống nguyên âm gồm 11 nguyên âm đơn /a, ă, â, e, ê, o, ô, ơ, u, ư, i/ và ba nguyên âm đôi /iê, ươ, ưa/. Âm chính là yếu tố tạo nên đỉnh âm thanh, có biên độ và cường độ lớn nhất trong các thành phần âm tiết. Đặc điểm Khi phát âm, luồng hơi không bị cản trở bởi lưỡi, răng hay môi Bộ máy phát âm căng thẳng toàn bộ Luồng hơi ra yếu hơn phụ âm Phân loại Các nguyên âm không thể phân chia theo tiêu chuẩn như của phụ âm. Về mặt phương thức cấu âm, nguyên âm chỉ thuộc vào một phương thức đó là luồng hơi ra tự do.
Nguyên âm không có vị trí cấu âm vì các khí quản không tạo thành khe, cũng không tạo thành chỗ tắc. Các nguyên âm cũng không thể phân loại theo tiếng thanh, vì bình thường, bất kỳ nguyên âm nào cũng có tiếng thanh. Các nguyên âm chỉ khác nhau ở các hoạt động của khí quản phát âm, trong đó quan trọng nhất là lưỡi. Vì sự thay đổi vị trí của lưỡi gây ra sự khác nhau rất lớn giữa các nguyên âm.
Lưỡi chuyển động tới-lui và lên xuống trong khoang miệng và tạo nên những tương quan phức tạp giữa các khoang cộng minh (khoang miệng và mũi), làm thay đổi hình dáng và thể tích của chúng. Môi tròn lại và đưa về trước, (LUAN.10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.10 18 làm kéo dài lối thoát của luồng không khí, hoặc môi chành ra, làm cộng minh trường phía trước ngắn lại. Người ta thường phân loại nguyên âm theo vị trí của lưỡi, độ nâng của lưỡi và hình dáng môi Theo vị trí của lưỡi Gồm các nguyên âm dòng trước (khi lưỡi dồn về trước), nguyên âm dòng sau (khi lưỡi dồn về sau) và nguyên âm dòng giữa (khi lưỡi ở giữa miệng nâng lên). Ví dụ, trong tiếng Việt, các nguyên âm dòng trước là [i], [e], [ê], nguyên âm dòng sau là [u], [o], [ô], nguyên âm dòng giữa là [ư], [ơ], [a].
Theo độ nâng của lưỡi Các nguyên âm được chia tùy theo từng ngôn ngữ. Độ nâng của lưỡi tương ứng với độ mở của miệng nên các nguyên âm có độ nâng cao còn gọi là nguyên âm hẹp, nguyên âm có độ nâng thấp còn gọi là nguyên âm mở. Trong ngữ âm học đại cương không có một cách phân loại tuyệt đối theo độ nâng lưỡi vì mỗi ngôn ngữ có một hệ thống nguyên âm khác nhau. Ví dụ, các nguyên âm dòng trước trong tiếng Pháp có 4 độ nâng, các nguyên âm trong tiếng Ðức có 5 độ nâng, tiếng Nga có 3 độ nâng, tiếng Anh có 6 độ nâng.
Trong tiếng Việt, các nguyên âm đơn có thể chia thành 4 nâng: Bảng 1.1: Phân chia nguyên âm theo độ nâng của lưỡi. Ðộ nâng Gồm các nguyên âm Hẹp [i], [u], … Hơi hẹp [ê], [u], … Hơi rộng [o], [e], … Rộng [a], [a], … Theo hình dáng môi Các nguyên âm được chia thành nguyên âm tròn môi ([u], [ô], [o]), nguyên âm không tròn môi ([i], [ê], [e], [ư], [ơ], [a]). Sự tròn môi rõ nhất ở nguyên âm khép và yếu nhất ở nguyên âm mở.10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Âm cuối Là âm kết thúc âm tiết.
Các âm tiết tiếng Việt thường đối lập bằng những cách kết thúc khác nhau.