phần mở đầu, kết luận, mục lục, bảng biểu, tài liệu tham khảo, luận văn đƣợc trình bày trong 03 chƣơng. Chƣơng 1: Tổng quan về chất lƣợng tín dụng thể nhân của ngân hàng thƣơng mại Chƣơng 2: Thực trạng chất lƣợng tín dụng thể nhân tại ngân hàng thƣơng mại cổ phần Ngoại thƣơng Việt Nam - Chi nhánh Sở giao dịch Chƣơng 3: Giải pháp nâng cao chất lƣợng tín dụng thể nhân tại ngân hàng thƣơng mại cổ phần Ngoại thƣơng Việt Nam – Chi nhánh Sở giao dịch 7 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ CHẤT LƢỢNG TÍN DỤNG THỂ NHÂN CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG THỂ NHÂN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Khái niệm về hoạt động tín dụng thể nhân Thuật ngữ tín dụng xuất phát từ gốc La tinh “credo” có nghĩa là một sự tin tƣởng, tín nhiệm lẫn nhau.
Theo quan niệm của các nhà nghiên cứu, tín dụng đƣợc hiểu là quan hệ kinh tế giữa ngƣời đi vay và ngƣời cho vay, biểu hiện thông qua sự vận động của giá trị vốn vay dƣới hình thức tiền tệ hoặc hàng hoá từ ngƣời cho vay chuyển sang ngƣời đi vay và sau một thời gian nhất định quay về với ngƣời cho vay với lƣợng giá trị lớn hơn ban đầu. Mặc dù hoạt động tín dụng đã ra đời từ rất lâu nhƣng cho đến nay ngƣời ta vẫn chƣa thống nhất đƣợc định nghĩa về tín dụng, nhƣng về cơ bản thì tín dụng có nội dung đó là: có sự chuyển nhƣợng quyền sử dụng vốn từ ngƣời sở hữu sang ngƣời sử dụng, sự chuyển nhƣợng có thời hạn và có sự tin tƣởng giữa các bên. Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trƣờng, qua từng thời kỳ từng giai đoạn mà thị trƣờng dần hình thành nên các hình thức tín dụng mới có trình độ cao hơn, bao gồm: tín dụng thƣơng mại, tín dụng nặng lãi, tín dụng NH, tín dụng nhà nƣớc, tín dụng tiêu dùng,. Trong các hình thức tín dụng trên thì hình thức tín dụng NH là vô cùng quan trọng và chủ yếu, cung cấp phần lớn nhu cầu tín dụng cho các doanh nghiệp và các thể nhân khác trong nền kinh tế.
Tại Việt Nam, theo Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 và luật sửa đổi Luật các tổ chức tín dụng năm 2017 có quy định, “Cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác”. 8 Theo giáo trình Tín dụng ngân hàng, Học viện ngân hàng, năm 2014: “Tín dụng là sự chuyển nhƣợng tạm thời một lƣợng giá trị từ ngƣời sở hữu sang ngƣời sử dụng và sau một thời gian nhất định quay trở lại ngƣời sở hữu một lƣợng giá trị lớn hơn ban đầu”. Theo tiến sỹ Nguyễn Minh Kiều, thì “Tín dụng ngân hàng là quan hệ chuyển nhƣợng quyền sử dụng vốn từ ngân hàng cho khách hàng trong một thời hạn nhất định với một khoản chi phí nhất định”. Trên cơ sở định nghĩa tín dụng ngân hàng nêu trên và trong phạm vi của luận văn này, đối tƣợng khách hàng cá nhân bao gồm cá nhân và hộ gia đình có giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hộ cá thể, vì vậy Tín dụng thể nhân có thể hiểu là hoạt động cho vay trong đó ngân hàng tài trợ vốn cho các chủ thể là cá nhân và hộ gia đình nhằm phục vụ việc sản xuất kinh doanh hay tiêu dùng của cá nhân và hộ gia đình trong một khoảng thời gian nhất định dựa trên nguyên tắc hoàn trả đúng thời hạn cả gốc và lãi.
Những quy định pháp lý về hoạt động tín dụng thể nhân Quy định pháp lý về TDTN bao gồm những quy định của Luật pháp điều chỉnh quan hệ phát sinh giữa các chủ thể khi tham gia hoạt động tín dụng về tính chất, quy mô và phạm vi giao dịch. Nó có vai trò quan trọng đối với trạng thái rủi ro và an toàn trong hoạt động NHTM nói chung và hoạt động TDTN nói riêng. Nguyên tắc hoạt động tín dụng thể nhân Các nguyên tắc hoạt động cho vay nói chung cũng nhƣ TDTN nói riêng đƣợc xây dựng trên yêu cầu về đảm bảo tính an toàn, khả năng thu hồi và sinh lời của vốn cho vay, mang tính bắt buộc và đƣợc thể hiện trong các quy định pháp lý của NH. Việc cấp phát vốn cho ngƣời vay đƣợc dựa trên hai nguyên tắc sau: Thứ nhất, sử dụng vốn vay đúng mục đích đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng: Trƣớc và sau khi cấp tín dụng, NHTM cần thẩm định mục đích sử dụng vốn của KH.
Việc sử dụng vốn vay đúng mục đích của KH là góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, đảm bảo khả năng hoàn trả nợ cho NH, đồng thời nâng cao uy tín của KH đối với NH. 9 Thứ hai, hoàn trả nợ gốc và tiền lãi đúng thời hạn đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng: Hoàn trả nợ gốc và tiền lãi là một nguyên tắc mang tính tất yếu khách quan, không thể thiếu trong hoạt động cấp tín dụng vì nguồn vốn chủ yếu là huy động từ các khoản tiền tạm thời nhàn rỗi của chủ thể trong nền kinh tế trong một thời gian nhất định. Để đảm bảo đƣợc nguyên tắc này, NHTM cần xác định thời hạn cấp tín dụng hợp lý và nguồn hình thành khả năng trả nợ của KH nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho NH thu hồi nợ tốt hơn. Điều kiện hoạt động tín dụng thể nhân Là những quy định cụ thể của NH đối với KH có nhu cầu vay vốn, bao gồm các điều kiện sau: - Có đủ năng lực về mặt pháp lý; - Mục đích sử dụng vốn hợp pháp; - Có năng lực tài chính đảm bảo trả nợ trong thời hạn cam kết; - Có dự án, phƣơng án đầu tƣ sản xuất kinh doanh mang tính khả thi; - Thực hiện tốt các yêu cầu về bảo đảm tiền vay theo quy định của Pháp luật.
Bảo đảm tiền vay Là việc NH sử dụng các biện pháp nhằm phòng ngừa rủi ro, tạo cơ sở kinh tế và pháp lý để thu hồi nợ gốc, lãi trong trƣờng hợp KH không có khả năng hoặc không hợp tác trong việc trả nợ. Căn cứ vào mức độ tín nhiệm, kết quả đánh giá xếp hạng năng lực đối với từng KH mà NH đƣa ra những yêu cầu về TSBĐ khác nhau. Phân loại hoạt động tín dụng thể nhân Cùng với xu thế phát triển và cạnh tranh, các NHTM đều nghiên cứu đƣa ra nhiều hình thức TDTN nhằm đáp ứng nhu cầu của KH, đa dạng hóa danh mục đầu tƣ, từ đó giúp NHTM tăng trƣởng lợi nhuận, phân tán rủi ro và tăng khả năng cạnh tranh trên thị trƣờng. Có thể phân loại TDTN theo một số tiêu chí sau: - Theo thời hạn vay vốn, TDTN đƣợc phân thành 3 loại: Tín dụng ngắn hạn: Thời hạn cho vay dƣới 1 năm, chủ yếu vốn vay để phục vụ nhu cầu tiêu dùng cần thiết cho cá nhân và hộ gia đình.
Rủi ro cho NH là khá nhỏ khi vay ngắn hạn, vì trong thời hạn ngắn ít có biến động xảy ra và nếu có NH cũng có thể dự tính đƣợc. 10 Tín dụng trung hạn: Thời hạn cho vay từ 1 đến dƣới 5 năm, thƣờng phục vụ cho nhu cầu vốn có thời hạn tƣơng đối dài nhƣ mua ô-tô, xây dựng nhà ở,… Tín dụng dài hạn: Thời hạn cho vay từ 5 năm trở lên, thời hạn tối đa có thể lên đến 20-30 năm, dùng để đáp ứng các nhu cầu dài hạn: xây dựng nhà ở, mua sắm đất đai. Nhìn chung, cho vay dài hạn tiềm ẩn nhiều rủi ro lớn. - Theo mục đích sử dụng vốn vay, TDTN đƣợc phân thành 2 loại: Tín dụng sản xuất và lưu thông hàng hóa: Cung cấp vốn mục đích cho sản xuất và kinh doanh của cá nhân hay các hộ gia đình.
Tín dụng tiêu dùng: Cung cấp vốn đáp ứng nhu cầu tiêu dùng: mua sắm xây sửa nhà, xe cộ, các thiết bị gia đình,…Tín dụng tiêu dùng ngày càng có xu hƣớng tăng lên. - Theo tính chất bảo đảm của các khoản vay, TDTN đƣợc phân thành 2 loại: Tín dụng có đảm bảo: Là khoản cho vay dựa trên cơ sở các đảm bảo nhƣ thế chấp, cầm cố hoặc bảo lãnh của ngƣời thứ ba. Hình thức này dùng đối với KH chƣa có uy tín hay KH lần đầu tiên giao dịch với NH. TSBĐ là căn cứ pháp lí để NH có thêm nguồn thu dự phòng khi nguồn tài chính của KH thiếu hụt, tạo áp lực buộc KH phải trả nợ, giảm thiểu rủi ro cho NH.
Hầu hết, các khoản cấp cho vay cá nhân là cho vay có đảm bảo. Tín dụng không có đảm bảo: Là khoản cho vay cấp ra không có tài sản thế chấp mà chỉ dựa vào tín chấp. Loại hình này thƣờng áp dụng KH có uy tín, tài chính lành mạnh, phƣơng án vay vốn khả thi, phù hợp với các món vay có giá trị không lớn, thời hạn vay thƣờng ngắn hạn. - Theo loại tiền đƣợc sử dụng trọng cho vay, TDTN đƣợc phân thành 2 loại: Tín dụng bằng nội tệ: là hình thức tín dụng mà NH cấp vốn cho KH bằng VNĐ.
Tín dụng bằng ngoại tệ: là hình thức tín dụng mà NH cấp vốn cho KH bằng đồng ngoại tệ. Vai trò hoạt động tín dụng thể nhân Với vai trò là trung gian tài chính lƣu chuyển vốn giữa những chủ thể tạm thời thừa vốn và chủ thể tạm thời thiếu vốn, hoạt động TDTN đã giải quyết đƣợc mâu thuẫn giữa cung cầu về vốn, là sự cần thiết khách quan phù hợp với sự vận 11 động vốn tiền tệ trong nền kinh tế thị trƣờng. Hoạt động TDTN đƣợc cụ thể hóa bằng các vai trò sau đây: 1. Đối với ngân hàng thương mại - TDTN là hoạt động chủ yếu và mang lại lợi nhuận cho NHTM.
Trong cơ cấu tài sản của NHTM, khoản mục cho vay thƣờng chiếm tỷ lệ 60- 80% tổng giá trị tài sản và TDTN chiếm tỷ trọng 10-20% khoản mục cho vay. Các khoản vay cá nhân tuy có quy mô nhỏ nhƣng số lƣợng lại khá lớn, do vậy tổng quy mô tài trợ cũng rất lớn. Đồng thời lãi suất áp dụng đối với KHCN thƣờng cao hơn so với KH doanh nghiệp nên các khoản vay cá nhân đóng góp một phần lợi nhuận không nhỏ trong tổng lợi nhuận của NH. - Thông qua hoạt động cho vay, NH có thể mở rộng các hoạt động dịch vụ khác với KHCN nhƣ huy động gửi tiền, dịch vụ thanh toán, thẻ tín dụng, chuyển tiền,.