CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Khái niệm tín dụng của Ngân hàng Thương Mại. Tín dụng là phạm trù kinh tế, ra đời, tồn tại và phát triển cùng với sự ra đời, tồn tại, phát triển của nền kinh tế hàng hóa.
Tín dụng ra đời là một tất yếu khách quan của nền kinh tế xã hội. Trong nền kinh tế hàng hoá, trong cùng một thời gian luôn có một số người tạm thời thừa vốn, có vốn nhàn rỗi và có nhu cầu cho vay. Bên cạnh đó luôn có một số người tạm thời thiếu vốn, có nhu cầu đi vay. Hiện tượng này làm nảy sinh mối quan hệ kinh tế mà nội dung của nó là vốn được dịch chuyển từ nơi thừa vốn sang nơi thiếu vốn với điều kiện hoàn trả vốn và lãi tiền vay là lợi nhuận thu được do sử dụng vốn vay.
Đây chính là quan hệ tín dụng. Theo Luật các tổ chức tín dụng đã được bổ sung, sửa đổi năm 2017 quy định cụ thể về hoạt động tín dụng và cấp tín dụng của tổ chức tín dụng như sau: “Hoạt động tín dụng là việc tổ chức tín dụng sử dụng nguồn vốn tự có, nguồn vốn huy động để cấp tín dụng. Cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác”. Theo Wikipedia, “Tín dụng là một phạm trù kinh tế và nó cũng là sản phẩm của nền kinh tế hàng hóa.
Tín dụng ra đời, tồn tại qua nhiều hình thái kinh tế - xã hội. Quan hệ tín dụng được phát sinh ngay từ thời kỳ chế độ công xã nguyên thủy bắt đầu tan rã”. Trong luận văn, tác giả tập trung nghiên cứu hoạt động tín dụng ngân hàng trên phương diện hoạt động cho vay. Đây cũng là hoạt động chính và chủ yếu trong các hoạt động tín dụng của ngân hàng.
Như vậy, đứng trên góc độ của nhà quản lý ngân hàng thì: Tín dụng ngân hàng là mối quan hệ vay mượn giữa ngân hàng với tất cả các cá nhân, tổ chức và các doanh nghiệp khác trong xã hội. 2 Đây không phải là quan hệ dịch chuyển vốn trực tiếp từ nơi thừa vốn sang nơi thiếu vốn mà là quan hệ dịch chuyển vốn gián tiếp thông qua một tổ chức trung gian, đó là ngân hàng. Tín dụng ngân hàng cũng mang bản chất chung của quan hệ tín dụng, đó là quan hệ vay mượn có hoàn trả cả vốn và lãi sau một thời gian nhất định, là quan hệ chuyển nhượng tạm thời quyền sử dụng vốn và là quan hệ bình đẳng cả hai bên cùng có lợi. Như vậy, tín dụng ngân hàng mang bản chất chung của quan hệ tín dụng, dựa trên nguyên tắc hoàn trả kèm theo lợi tức, để thỏa mãn nhu cầu của cả hai bên, do đó tín dụng ngân hàng là một quan hệ bình đẳng, cả hai bên cùng có lợi và mang tính thỏa thuận lớn.
Khái niệm rủi ro tín dụng. Rủi ro tín dụng (RRTD) phát sinh khi người vay hoặc bên đối tác có nguy cơ không thể thực hiện được trách nhiệm trong giao dịch tín dụng, ngân hàng có nguy cơ không nhận được phần gốc và/hoặc lãi của các khoản vay. Theo Uỷ ban Basel: “RRTD là khả năng mà khách hàng vay hoặc bên đối tác không thực hiện được các nghĩa vụ của mình theo những điều khoản đã thoả thuận”. Thực chất rủi ro thất thoát đối với một ngân hàng theo uỷ ban Basel đó là: "Sự vỡ nợ của người giao ước trong hợp đồng” mà sự vỡ nợ được xác định là bất kỳ sự vi phạm nghiêm trọng nào đối với nghĩa vụ hợp đồng khi hoàn trả gốc và/hoặc lãi.
Ảnh hưởng của rủi ro tín dụng đến hoạt động kinh doanh của Ngân hàng Thương Mại. - Rủi ro tín dụng làm suy giảm uy tín của ngân hàng: RRTD ở mức độ cao phản ánh năng lực hoạt động kinh doanh của ngân hàng không tốt, làm suy giảm uy tín của ngân hàng trên thị trường huy động vốn do suy giảm lòng tin của công chúng gửi tiền, suy giảm tín nhiệm trên thị trường tiền quốc tế và khu vực gây khó khăn trong việc quan hệ vay vốn nước ngoài, thiết lập quan hệ trong hoạt động kinh doanh khác. - Rủi ro tín dụng làm cho khả năng thanh toán của ngân hàng giảm sút: 3 Các khoản tín dụng có rủi ro khiến cho việc hoàn trả gặp khó khăn, trong lúc đó các khoản tiền gửi, tiết kiệm của dân cư vẫn phải thanh toán đúng kỳ hạn. Nguồn vốn huy động không được dồi dào do mất uy tín, cũng vì thế người rút tiền lại càng tăng lên, kết quả là ngân hàng gặp khó khăn trong khâu thanh toán.
- Rủi ro tín dụng làm giảm lợi nhuận của ngân hàng: Khi RRTD xảy ra, ngân hàng không thu hồi được nợ vay như dự kiến ban đầu, làm chậm tốc độ quay vòng vốn, gây ra những thiệt hại về mặt tài chính, thêm vào đó là quá trình mở rộng hoạt động kinh doanh gặp khó khăn, bế tắc, thu nhập giảm kết quả là làm giảm lợi nhuận của ngân hàng. - Rủi ro tín dụng làm tăng nguy cơ phá sản ngân hàng: RRTD kéo dài gây thất thoát lượng vốn quá lớn dẫn đến các NHTM có thể rơi vào tình trạng mất khả năng thanh toán và có thể dẫn đến phá sản. Việc phá sản một ngân hàng có thể dẫn đến phản ứng dây chuyền có tính hệ thống gây nên phá sản các ngân hàng khác nếu ngân hàng phá sản ban đầu có vị thế quan trọng trong hệ thống các TCTD và làm suy sụp toàn bộ nền kinh tế, chính trị quốc gia. Sau đây là các loại rủi ro mà ngân hàng phải đối mặt: Nguồn: Tổng hợp của tác giả Hình 1.1: Các rủi ro ngân hàng phải đối mặt 4 1.
CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI. Khái niệm chất lượng tín dụng của Ngân hàng Thương Mại. Chất lượng tín dụng của Ngân hàng thương mại (NHTM) có thể nói là sự đáp ứng yêu cầu của khách hàng về vốn vay phù hợp với sự phát triển kinh tế xã hội và đảm bảo sự tồn tại, phát triển của ngân hàng và đảm bảo phù hợp với quy định cho vay và các quy chuẩn, nguyên tắc đã được đặt ra. Chất lượng cho vay của Ngân hàng đạt được phụ thuộc vào kết quả kinh doanh của các doanh nghiệp vay vốn.
Lãi sẽ được thu đủ và đều đặn nếu doanh nghiệp kinh doanh có hiệu quả. Ngược lại, Ngân hàng sẽ không thu được lãi mà vốn cũng có nguy cơ hao hụt. CLTD của NHTM là chỉ tiêu tổng hợp phản ánh hoạt động tín dụng của NHTM nhằm thỏa mãn tốt nhất nhu cầu tín dụng và lợi ích của khách hàng, tăng thu nhập, đảm bảo sự tồn tại, phát triển bền vững của ngân hàng, trên cơ sở đó góp phần thúc đẩy sự phát triển nền kinh tế. Khi đánh giá chất lượng của một đối tượng, ta xét đến mọi đặc tính của đối tượng có liên quan đến sự thỏa mãn một nhu cầu cụ thể.
Theo quan điểm của tác giả, CLTD được đánh giá qua ba phương diện sau: - Đối với khách hàng: CLTD là chất lượng của sản phẩm tín dụng do Ngân hàng cung cấp. CLTD cao đồng nghĩa với việc vốn vay được cung ứng đủ về số lượng, đúng thời hạn và lãi suất hợp lý, với thời gian xét duyệt nhanh chóng, thái độ của nhân viên nhiệt tình, chu đáo. Từ đó tạo điều kiện cho khách hàng kinh doanh có hiệu quả, có nguồn thu nhập hàng kỳ ổn định để trả nợ vay ngân hàng, giúp khách hàng và ngân hàng phát triển hoạt động kinh doanh của mình. - Đối với Ngân hàng: Nguyên tắc cơ bản nhất đối với hoạt động tín dụng của Ngân hàng đó là vốn vay phải được hoàn trả cả gốc và lãi đúng hạn.
Nên nói đến CLTD là nói đến khoản tín dụng được bảo đảm an toàn, sử dụng vốn vay đúng mục đích, phù hợp với chính sách tín dụng của ngân hàng, hoàn trả gốc và lãi đúng thời hạn, đem lại lợi nhuận cho ngân hàng với chi phí nghiệp vụ thấp, tăng khả năng cạnh tranh của ngân hàng trên thị trường, làm lành mạnh các quan hệ kinh tế, phục vụ tăng trưởng và phát triển. 5 - Đối với nền kinh tế: Khoản tín dụng có chất lượng là được huy động tối đa lượng tiền tạm thời nhàn rỗi và thực hiện cho vay đầu tư phát triển nền kinh tế theo định hướng của Nhà nước một cách hiệu quả nhất. Tức là việc đầu tư tín dụng sẽ góp phần nâng cao năng suất lao động, tạo ra các sản phẩm dịch vụ có chất lượng cao, giá thành hạ, thông qua đó góp phần thực hiện các chính sách kinh tế vĩ mô của Nhà nước như giải quyết công ăn việc làm cho người lao động, cải thiện cuộc sống cho người dân, củng cố quan hệ kinh tế đối ngoại quốc gia, đặc biệt góp phần vào công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. CLTD được xác định qua nhiều yếu tố: Thu hút được nhiều khách hàng tốt, thủ tục đơn giản, thuận tiện, mức độ an toàn vốn tín dụng, chi phí về tổng thể lãi suất, chi phí nghiệp vụ.
Để có CLTD tốt cần có sự tổ chức và quản lý đồng bộ trong một Ngân hàng, vì điều đó không chỉ đảm bảo cho CLTD, mà còn nhằm cải tiến tính hiệu quả và linh hoạt của toàn bộ cơ sở kinh doanh nhằm thoả mãn ngày càng đầy đủ yêu cầu của khách hàng ở mọi công đoạn, bên trong cũng như bên ngoài. Để làm được điều đó mỗi thành viên trong một tổ chức Ngân hàng phải hiểu và thực hiện tốt quy trình quản lý chất lượng. Như vậy, CLTD là một phạm trù rộng lớn. Để có được CLTD thì hoạt động tín dụng phải có hiệu quả và quan hệ tín dụng phải được thiết lập trên cơ sở tin cậy và uy tín trong hoạt động.
Hay nói một cách khác, CLTD tỷ lệ thuận với hiệu quả và độ tin cậy trong hoạt động tín dụng. Sự cần thiết phải nâng cao chất lượng tín dụng của Ngân hàng Thương Mại. Ngân hàng là một đơn vị kinh doanh đặc thù về tiền tệ, do đó có các tác động lớn đến toàn bộ nền kinh tế.