CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÍN DỤNG ĐẦU TƯ CỦA NHÀ NƯỚC 1. TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG PHÁT TRIỂN 1. Khái niệm ngân hàng phát triển Ngân hàng phát triển (NHPT) là “tổ chức tín dụng mà hoạt động chủ yếu là tài trợ trung và dài hạn cho các dự án phát triển” (Phạm Thị Thu Hà, 2005). NHPT là một công cụ của Chính phủ trong việc thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội.
NHPT đứng ra tập hợp các khoản vốn trung và dài hạn trong và ngoài nước, sau đó tài trợ có trọng điểm và ưu đãi cho các đối tượng nhất định trong nền kinh tế để đạt được hiệu quả các mục tiêu Chính phủ đề ra trong từng thời kỳ nhất định. Giống như các ngân hàng khác, NHPT là một tổ chức tài chính cung cấp các dịch vụ tài chính đa dạng và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế. Ngoài ra, vì NHPT là một công cụ của Chính phủ trong việc điều hành nền kinh tế vĩ mô nên NHPT mang một số nét khác biệt so với các trung gian tài chính khác. Mục tiêu cao nhất của NHPT là hỗ trợ cho sự phát triển kinh tế - xã hội của các quốc gia.
Đây là đặc điểm thể hiện sự khác biệt giữa NHPT so với các trung gian tài chính khác. NHPT luôn hướng tới mục tiêu duy trì hiệu quả kinh tế - xã hội cho các dự án phát triển nên đôi khi mục tiêu này mâu thuẫn với hiệu quả tài chính. Tuy nhiên, các dự án phát triển mà NHPT chấp nhận tài trợ vẫn phải đảm bảo các nguyên tắc tín dụng cơ bản thông qua hoạt động thẩm định và tư vấn kĩ càng đối với các dự án đó. NHPT cùng khách hàng kết hợp với sự hỗ trợ của các cơ quan quản lý Nhà nước tìm các biện pháp hạn chế rủi ro có thể gây ra tổn thất cho các dự án.
Hoạt động chủ yếu của Ngân hàng Phát triển 1. Hoạt động huy động vốn Các nguồn vốn được huy động của NHPT phải đáp ứng các yêu cầu: Quy mô vốn phù hợp với nhu cầu đầu tư /cho vay của các dự án mà ngân hàng tài trợ; 8 Lãi suất hay chi phí vốn phù hợp với tỷ lệ sinh lời của các dự án sao cho chi phí vốn trung bình thấp; Kỳ hạn của các nguồn vốn phù hợp với thời gian thực hiện hoặc thời gian hoàn vốn của các dự án, kỳ hạn dài và ổn định. VDB huy động vốn từ hai nguồn chính là vốn chủ sở hữu và vốn nợ. Vốn chủ sở hữu là các nguồn tiền được đóng góp bởi những người chủ của ngân hàng.
Vốn chủ sở hữu là cơ sở để cung cấp những nguồn lực ban đầu giúp ngân hàng giảm rủi ro, duy trì niềm tin của người dân và các chủ ngân hàng vào khả năng quản lý và phát triển của ngân hàng. Vốn nợ bao gồm các loại tiền gửi, phát hành giấy tờ có giá, tiền vay các trung gian tài chính khác… Vốn nợ là thước đo quan trọng đánh giá sự chấp nhận của công chúng đối với ngân hàng. Khả năng huy động vốn nợ với mức lãi suất hợp lý và khả năng đáp ứng các yêu cầu của các dự án phát triển là căn cứ để đánh giá tính hiệu quả trong quản lý NHPT. Các nguồn huy động cụ thể của NHPT bao gồm: Vốn do Nhà nước cấp: Vốn chủ sở hữu của NHPT chủ yếu có nguồn gốc từ Chính phủ.
Là ngân hàng thuộc sở hữu của Chính Phủ, hoạt động phục vụ chính sách phát triển của Chính phủ nên khi NHPT mới thành lập, Chính phủ sẽ cấp cho NHPT một số lượng vốn nhất định. Hàng năm, tùy thuộc vào thu Ngân sách Nhà nước (NSNN), nhiệm vụ Chính phủ giao cho NHPT trong từng thời kỳ và quy mô các khoản viện trợ không hoàn lại của các Chính phủ và tổ chức tài chính nước ngoài, Chính phủ tiếp tục cấp bổ sung vốn cho NHPT. Huy động tiền gửi trên thị trường: NHPT huy động tiền gửi ngắn hạn, trung hạn và dài hạn; trong đó tập trung vào tiền gửi trung và dài hạn. NHPT có thể huy động tiền gửi bằng đồng nội tệ hoặc ngoại tệ, có thể áp dụng lãi suất cố định hoặc thả nổi trong thời gian sử dụng nguồn vốn này.
Huy động tiền gửi từ các tổ chức trong nền kinh tế. Do đặc điểm là tổ chức tài chính phát triển được Chính phủ bảo lãnh nên NHPT có thể dễ dàng tiếp cận để huy động được nguồn tiền lớn tạm thời chưa sử dụng từ các tổ chức này. 9 Nguồn vốn vay: NHPT huy động vốn thông qua phát hành giấy tờ có giá trên thị trường tài chính trong và ngoài nước, chủ yếu là thị trường vốn để huy động vốn trung và dài hạn; Vay từ Ngân hàng Trung ương để giải quyết nhu cầu cấp bách của NHPT; Vay nước ngoài (song phương hoặc đa phương). Hoạt động cấp tín dụng - Cho vay: Cho vay là một hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào một mục đích và trong một thời hạn nhất định theo thỏa thuận và dựa trên nguyên tắc hoàn trả cả gốc và lãi.
Ngân hàng phát triển cho vay chủ yếu đối với dự án phát triển nên phần lớn là các khoản cho vay trung và dài hạn, tức là các món vay có thời hạn tín dụng từ 12 tháng trở lên. - Bảo lãnh: Bảo lãnh là việc NHPT cam kết với tổ chức tín dụng cho vay vốn về việc trả nợ đầy đủ, đúng hạn của bên đi vay; theo đó nếu bên đi vay không trả được nợ hoặc trả không đủ nợ đến hạn thanh toán thì NHPT sẽ trả nợ thay cho bên đi vay. Hoạt động đầu tư Hoạt động đầu tư của NHPT bao gồm đầu tư vào chứng khoán và đầu tư trực tiếp vào các ngành kinh tế. Với nguồn vốn chủ sở hữu và vốn vay trung-dài hạn lớn, NHPT có thể tham gia trực tiếp vào các hoạt động của các dự án và các doanh nghiệp thông qua mua cổ phần.
Theo cách đầu tư này, NHPT cũng có thể trực tiếp chia sẻ rủi ro với các chủ đầu tư. Hoạt động hỗ trợ lãi suất sau đầu tư Hỗ trợ lãi suất sau đầu tư là việc Nhà nước hỗ trợ một phần lãi suất cho chủ đầu tư vay vốn ngân hàng để đầu tư vào dự án, sau khi dự án đã hoàn thành, đưa vào sử dụng và trả được nợ vay. Đây là hoạt động của NHPT nhằm hỗ trợ lãi suất đối với các khoản vay trung dài hạn của các đối tượng khách hàng để thực hiện các dự án đầu tư mới phát triển sản xuất kinh doanh, hình thành kết cấu hạ tầng và phục vục các nhu cầu xuất khẩu. KHÁI QUÁT VỀ TÍN DỤNG VÀ TÍN DỤNG ĐẦU TƯ CỦA NHÀ NƯỚC 1.
Khái niệm tín dụng Tín dụng là quan hệ vay mượn vốn lẫn nhau dựa trên sự tin tưởng số vốn đó sẽ được hoàn lại vào một ngày xác định trong tương lai (Sử Đình Thanh, 2008). Luật các TCTD năm 2010 “Cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác”. Như vậy, tín dụng bao gồm các nội hàm sau: Một là, tín dụng là quan hệ chuyển nhượng mang tính tạm thời. Tính chất tạm thời của sự chuyển nhượng đề cập đến thời gian sử dụng lượng giá trị đó.
Thực chất trong quan hệ tín dụng chỉ có sự chuyển nhượng quyền sử dụng lượng giá trị tạm thời nhàn rỗi trong một khoảng thời gian nhất định mà không có sự thay đổi quyền sở hữu đối với lượng giá trị đó. Hai là, tính hoàn trả. Lượng vốn được chuyển nhượng phải được hoàn trả đúng hạn cả về thời gian và về giá trị bao gồm hai bộ phận: gốc và lãi. Phần lãi đảm bảo cho lượng giá trị hoàn trả lớn hơn lượng giá trị ban đầu.
Sự chênh lệch này là giá trả cho quyền sử dụng vốn tạm thời. Ba là, quan hệ tín dụng dựa trên cơ sở sự tin tưởng giữa người đi vay và người cho vay. Người cho vay tin tưởng rằng vốn sẽ được trả khi đến hạn. Người đi vay tin tưởng vào khả năng phát huy hiệu quả của vốn vay.
Cơ sở của sự tin tưởng có thể do uy tín của người đi vay, do giá trị tài sản thế chấp và do bảo lãnh của người thứ ba. Khái niệm tín dụng đầu tư của Nhà nước Tín dụng đầu tư phát triển Nhà nước là một hình thức tín dụng nhằm thực hiện chính sách đầu tư phát triển của Nhà nước giữa Nhà nước với các pháp nhân, thể nhân trong nền kinh tế được Nhà nước hỗ trợ với chính sách ưu đãi cho từng đối tượng cụ thể nhằm mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội trong từng thời kỳ nhất định theo định hướng của Nhà nước. 11 Về hình thức: TDĐT của Nhà nước dựa trên quan hệ vay mượn có hoàn trả cả gốc và lãi sau một thời gian nhất định. Về nội dung: TDĐT của Nhà nước không phải là hoạt động kinh doanh tiền tệ mà là một kênh hỗ trợ các nhà đầu tư huy động được vốn cho đầu tư phát triển.
* Từ khái niệm trên cho thấy TDĐT của Nhà nước khác với tín dụng ngân hàng. Điểm khác biệt cơ bản đó là TDĐT của Nhà nước là hình thức tín dụng đặc biệt do Nhà nước thực hiện không vì mục tiêu lợi nhuận mà nhằm thực hiện mục tiêu kinh tế vĩ mô và an sinh xã hội, đầu tư các dự án trọng điểm và các chương trình mục tiêu quốc gia, các ngành kinh tế mũi nhọn, cần khuyến khích đầu tư, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế các vùng, miền… trong khi tín dụng ngân hàng đối với các dự án là hướng tới mục tiêu lợi nhuận. Các hình thức tín dụng đầu tư của Nhà nước Tín dụng đầu tư của Nhà nước bao gồm các hình thức sau đây: Cho vay đầu tư là việc Ngân hàng Phát triển cho các chủ đầu tư vay vốn để thực hiện dự án. Ưu điểm của hình thức tín dụng đầu tư này là có khả năng thực hiện quản lý, giám sát nguồn vốn chặt chẽ ở các khâu trước và trong khi cho vay.
Tuy nhiên, để thực hiện cho việc vay đầu tư thì phải luôn có sẵn nguồn vốn theo tiến độ thực hiện dự án đầu tư.