Chương 1. Vấn đề cơ bản về chất lượng tín dụng đối với khách hàng doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Ngân hàng thương mại Chương 2. Thực trạng chất lượng tín dụng đối với khách hàng doanh nghiệp nhỏ và vừa tại NHTMCP Ngoại Thương Việt Nam - Chi nhánh Phú Thọ Chương 3. Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng đối với khách hàng doanh nghiệp vừa và nhỏ tại NHTMCP Ngoại Thương Việt Nam - Chi nhánh Phú Thọ.
VẤN ĐỀ CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG ĐỐI VỚI KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Tín dụng đối với khách hàng doanh nghiệp nhỏ và vừa tại ngân hàng thương mại 1. Quan điểm về tín dụng đối với khách hàng doanh nghiệp nhỏ và vừa Trong thực tế cuộc sống thuật ngữ tín dụng được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau; ngay cả trong quan hệ tài chính, tuỳ theo bối cảnh cụ thể mà thuật ngữ tín dụng có các nội dung riêng. Đề án sử dụng khái niệm tín dụng là “quan hệ tín dụng bằng tiền tệ giữa một bên là ngân hàng và một bên là chính phủ, các tổ chức kinh tế và dân cư trong và ngoài nước với nguyên tắc thoả thuận và có hoàn trả cả gốc và lãi” (Cao Thị Ý Nhi, 2016).
Theo Luật doanh nghiệp 2020, “Doanh nghiệp là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được thành lập hoặc đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh”. DNNVV là loại hình doanh nghiệp được xác định dựa trên tiêu chí về quy mô vốn và số lượng lao động. Cụ thể như sau: Bảng 1. Phân loại DNNVV phân theo lĩnh vực hoạt động STT Phân Lĩnh vực nông-lâm-thuỷ sản; Lĩnh vực thương mại và dịch vụ loại công nghiệp và xây dựng doanh Quy mô doanh Quy mô Quy mô doanh Quy mô nghiệp thu/nguồn vốn lao động thu/nguồn vốn lao động 1 Doanh Doanh thu đến 3 tỷ đồng, ≤ 10 Doanh thu đến 10 tỷ ≤ 10 nghiệp hoặc người đồng, hoặc người siêu nhỏ Nguồn vốn đến 3 tỷ đồng Nguồn vốn đến 3 tỷ đồng 2 Doanh Doanh thu trên 3 tỷ đồng ≤ 100 Doanh thu trên 10 tỷ ≤ 50 nghiệp đến 50 tỷ đồng, hoặc người đồng đến 100 tỷ đồng, người nhỏ Nguồn vốn trên 3 tỷ đồng hoặc đến 20 tỷ đồng Nguồn vốn trên 3 tỷ đồng đến 50 tỷ đồng 3 Doanh Doanh thu trên 50 tỷ ≤ 200 Doanh thu trên 100 tỷ ≤ 100 nghiệp đồng đến 200 tỷ đồng, người đồng đến 200 tỷ đồng, người vừa hoặc hoặc 5 Nguồn vốn trên 20 tỷ Nguồn vốn trên 50 tỷ đồng đến 100 tỷ đồng đồng đến 100 tỷ đồng (Nguồn: Nghị định 80/2021/NĐ-CP) Tùy từng thời điểm và quy định của mỗi nước mà DNNVV được định nghĩa theo các cách khác nhau.
DNNVV được định nghĩa chung nhất là những cơ sở sản xuất kinh doanh có tư cách pháp nhân, kinh doanh vì mục tiêu lợi nhuận, có quy mô doanh nghiệp. Từ khái niệm tín dụng và doanh nghiệp nhỏ và vừa, đề án quan niệm “Tín dụng đối với DNNVV là hình thức cấp tín dụng của ngân hàng đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa, theo đó, ngân hàng giao cho DNNVV một khoản bằng tiền để sử dụng vào mục đích xác định, trong một thời gian nhất định với nguyên tắc đảm bảo thu hồi đầy đủ gốc và lãi vay”. Đặc điểm tín dụng đối với khách hàng doanh nghiệp nhỏ và vừa - Các khoản cấp tín dụng đối với DNNVV thường nhỏ: Do các DNNVV có quy mô cũng như nguồn vốn không lớn, vì vậy, trong khuôn khổ hoạt động của doanh nghiệp thường đầu tư vào các dự án có quy mô phù hợp với khả năng, đó là những dự án có mức đầu tư vừa phải nên món vay ngân hàng của doanh nghiệp thường nhỏ. Vì vậy ngân hàng sẽ luôn cân nhắc giữa chi phí bỏ ra như chỉ phí quản lí, chi phí tìm kiếm thông tin về doanh nghiệp, các chi phí khác.
và lãi thu được từ khoản vay đó có bù đắp được chi phí và sinh lời cho ngân hàng hay không. - Loại hình tín dụng chủ yếu là tín dụng ngắn hạn: Do các doanh nghiệp thường có nhu cầu sử dụng vốn tạm thời cao, đáp ứng cho nhu cầu tài trợ vốn lưu động như mua nguyên vật liệu., có khả năng quay vòng vốn nhanh. Các khoản tín dụng dài hạn của DNNVV thường phát sinh khi mở doanh nghiệp hoặc mua máy móc thiết bị hoặc tài trợ nhu cầu vốn lưu động thường xuyên. Tuy nhiên, các khoản tín dụng dài hạn khi doanh nghiệp mới thành lập chứa đựng nhiều rủi ro, thường các DNNVV không đủ tài sản bảo đảm cho khoản tín dụng mua thiết bị, máy móc vì vậy doanh số cấp tín dụng ngắn hạn vẫn chiếm chủ yếu.
- Tỷ lệ cấp tín dụng có tài sản bảo đảm thường cao: Do các DNNVV vẫn tồn tại những yếu kém như năng lực tài chính không cao, khả năng xây dựng phương án kinh doanh còn nhiều hạn chế. Vì vậy mà khi cấp tín dụng, các ngân hàng thường yêu cầu tài sản bảo đảm hoặc bảo lãnh của bên thứ ba. Tuy nhiên, một lượng lớn các DNNVV khi đề nghị cấp tín dụng tại ngân hàng không đáp ứng được yêu cầu về tài sản bảo đảm do những tài sản bảo đảm thường là máy móc thiết bị, nhà xưởng mà khi ngân hàng đánh giá lại thường rất thấp. 6 - Ngân hàng có nhiều cơ hội thu lợi nhuận từ việc hoạt động tín dụng đối với DNNVV, đặc biệt là doanh nghiệp làm ăn hiệu quả: Với nhóm DNNVV, ngân hàng thường áp dụng mức lãi suất cao hơn so với các doanh nghiệp lớn.
Giá trị của một món vay tuy không lớn, nhưng các Ngân hàng có thể lấy số lượng bù quy mô. Bên cạnh các khoản lãi thu được từ hoạt động tín dụng nếu Ngân hàng khai thác tốt sẽ phát triển được các khoản tiền gửi, mua bánngoại tệ, các khoản phí dịch vụ thanh toán, dịch vụ chuyển tiền, bảo lãnh. - Tín dụng đối với DNNVV luôn nhận được hỗ trợ, quan tâm từ Chính Phủ: Do lực lượng các DNNVV đóng vai trò quan trọng đối với nền kinh tế của mỗi quốc gia nên trong từng thời kỳ đều nhận được những chính sách ưu tiên phát triển, trong đó chính phủ các nước thường tập trung vào việc tạo điều kiện để DNNVV có thể tiếp cận dễ dàng đối với nguồn vốn vay của Ngân hàng. Vai trò của tín dụng đối với khách hàng doanh nghiệp nhỏ và vừa Vốn tín dụng ngân hàng đầu tư cho các DNNVV đóng vai trò rất quan trọng, nó chẳng những thúc đẩy phát triển khu vực kinh tế này mà thông qua đó tác động trở lại thúc đẩy hệ thống ngân hàng, đổi mới chính sách tiền tệ hoàn thiện các cơ chế chính sách về tín dụng, thanh toán ngoại hối… - Tín dụng ngân hàng đáp ứng nhu cầu vốn cho DNNVV đảm bảo quá trình sản xuất liên tục, góp phần thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế: Đối với DNNVV, tín dụng Ngân hàng có vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế DNNVV.
Tín dụng Ngân hàng đáp ứng nhu cầu vốn cho DNNVV để duy trì quá trình sản xuất liên tục, góp phần đầu tư phát triển kinh tế, từ đó góp phần thúc đẩy tạo điều kiện cho quá trình phát triển sản xuất kinh doanh được liên tục. - Tín dụng ngân hàng góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của DNNVV: Khi sử dụng vốn tín dụng ngân hàng các doanh nghiệp phải tôn trọng hợp đồng tín dụng phải đảm bảo hoàn trả cả gốc lẫn lãi đúng hạn và phải tôn trọng các điều khoản của hợp đồng cho dù doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả hay không. Do đó đòi hỏi các doanh nghiệp muốn có vốn tín dụng của ngân hàng phải có phương án sản xuất khả thi. Không chỉ thu hồi đủ vốn mà các doanh nghiệp còn phải tìm cách sử dụng vốn có hiệu quả, tăng nhanh chóng vòng quay vốn, đảm bảo tỷ suất lợi nhuận phải lớn hơn lãi suất ngân hàng thì mới trả được nợ và kinh doanh có lãi.
Trong quá trình cho vay, ngân hàng thực hiện kiểm soát trước, trong và sau khi giải ngân buộc doanh nghiệp phải sử dụng vốn đúng mục đích và có hiệu quả. Thực hiện tốt chức năng là cầu nối giữa tiết kiệm và đầu tư, Ngân hàng quan tâm đến nguồn vốn đã huy động được để cho DNNVV vay. Vì vậy Ngân hàng sẽ thúc đẩy 7 các DNNVV sử dụng vốn tín dụng có hiệu quả, tăng nhanh vòng quay vốn, tiết kiệm vốn cho sản xuất và lưu thông. Trên cơ sở đó DNNVV biết phải tập trung vốn như thế nào để sản xuất góp phần tích cực vào quá trình vận động liên tục của nguồn vốn.
- Tín dụng ngân hàng góp phần hình thành cơ cấu vốn tối ưu cho DNNVV: Trong nền kinh tế thị trường hiếm doanh nghiệp nào dùng vốn tự có để sản xuất kinh doanh. Nguồn vốn vay chính là công cụ đòn bẩy để doanh nghiệp tối ưu hoá hiệu quả sử dụng vốn. Đối với các DNNVV do hạn chế về vốn nên việc sử dụng vốn tự có để sản xuất là khó khăn vì vốn hạn hẹp vì nếu sử dụng thì giá vốn sẽ cao và sản phẩm khó được thị trường chấp nhận. Để hiệu quả thì doanh nghiệp phải có một cơ cấu vốn tối ưu, kết cấu hợp lý nhất là nguồn vốn tự có và vốn vay nhằm tối đa hoá lợi nhuận tại mức giá vốn bình quân rẻ nhất.
- Tín dụng ngân hàng đã góp phần tập chung vốn sản xuất, nâng cao khả năng cạnh tranh của các DNNVV: Cạnh tranh là một quy luật tất yếu của nền kinh tế thị trường, muốn tồn tại và đứng vững thì đòi hỏi các doanh nghiệp phải chiến thắng trong cạnh tranh. Đặc biệt đối với các DNNVV, do có một số hạn chế nhất định, việc chiếm lĩnh ưu thế trong cạnh tranh trước các doanh nghiệp lớn trong nước và nước ngoài là một vấn đề khó khăn. Xu hướng hiện nay của các doanh nghiệp này là tăng cường liên doanh, liên kết, tập trung vốn đầu tư và mở rộng sản xuất, trang bị kỹ thuật hiện đại để tăng sức cạnh tranh. Tuy nhiên để có một lượng vốn đủ lớn đầu tư cho sự phát triển trong khi vốn tự có lại hạn hẹp, khả năng tích luỹ thấp thì phải mất nhiều năm mới thực hiện được.
Và khi đó cơ hội đầu tư phát triển không còn nữa. Như vậy có thể đáp úng kịp thời, các DNNVV chỉ có thể tìm đến tín dụng ngân hàng. Chỉ có tín dụng ngân hàng mới có thể giúp doanh nghiệp thưc hiện được mục đích của mình là mở rộng phát triển sản xuất kinh doanh.