Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THANH TOÁN TÍN DỤNG CHỨNG TỪ VÀ CHẤT LƯỢNG THANH TOÁN TÍN DỤNG CHỨNG TỪ 1. Những vấn đề về thanh toán tín dụng chứng từ 1. Tổng quan về thanh toán quốc tế 1. Khái niệm thanh toán quốc tế Lợi thế so sánh giữa các quốc gia rất khác nhau, để tồn tại và phát triển một cách thuận lợi thì các quốc gia nhất thiết phải giao thương, trên cơ sở mang hàng hóa mình có lợi thế so sánh để trao đổi với những hàng hóa có lợi thế so sánh.
Từ đó giữa các quốc gia sẽ phát sinh các khoản thu và khoản chi khác nhau. Trong mối quan hệ chi trả để giải quyết các khoản thu và khoản chi này, các quốc gia phải cùng nhau quy định những yếu tố cấu thành cơ chế thanh toán giữa các quốc gia như quy định về chủ thể tham gia thanh toán, lựa chọn tiền tệ, các công cụ và các phương thức đòi và/hoặc chi trả tiền tệ. Từ đó cần thiết đến nghiệp vụ TTQT để giải quyết các nhu cầu thương mại, trao đổi giữa các quốc gia. TTQT là quá trình thực hiện các khoản thu chi tiền tệ quốc tế thông qua hệ thống ngân hàng trên thế giới nhằm phục vụ cho các mối quan hệ trao đổi quốc tế phát sinh giữa các nước với nhau [20].
TTQT là khâu cuối cùng của một quá trình sản xuất và lưu thông hàng hoá, do vậy nếu công tác TTQT được tổ chức tốt thì giá trị hàng xuất khẩu mới được thực hiện, góp phần thúc đẩy thương mại quốc tế phát triển. Do đó, nó trở thành một yếu tố quan trọng để nâng cao hiệu quả hoạt động đối ngoại. Vai trò của thanh toán quốc tế Đối với lĩnh vực Ngoại thương Ngoại thương có vị trí quan trọng trong nền kinh tế của mỗi quốc gia, nhờ hoạt động ngoại thương góp phần giải quyết các nhu cầu trong nước về sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ mà sản xuất trong nước chưa đáp ứng được; đồng thời cung cấp các sản phẩm, hàng hóa dịch vụ mà nước ngoài còn thiếu và có nhu cầu sử dụng. 7 TTQT là khâu cuối cùng để hoàn thành các quan hệ ngoại thương.
Hoạt động xuất – nhập khẩu nói riêng và ngoại thương nói chung chỉ có thể phát triển một cách bình thường khi khâu thanh toán được thực hiện và giải quyết. Việc tổ chức TTQT được tiến hành nhanh chóng, chính xác sẽ làm cho các nhà sản xuất yên tâm và đẩy mạnh hoạt động xuất nhập khẩu của mình, nhờ đó thúc đẩy hoạt động ngoại thương phát triển. Đồng thời, hoạt động TTQT góp phần hạn chế rủi ro trong quá trình thực hiện hợp đồng ngoại thương. Vì thế, có thể nói rằng hoạt động ngoại thương có mở rộng được hay không một phần nhờ vào hoạt động TTQT có tốt hay không.
TTQT tốt sẽ đẩy mạnh hoạt động xuất nhập khẩu, qua đó phát triển sản xuất trong nước, khuyến khích các doanh nghiệp (DN) mở rộng sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm, hàng hóa. Như vậy, TTQT không những có tác dụng duy trì các mối quan hệ ngoại thương, mà còn có tác dụng thúc đẩy ngoại thương phát triển mạnh mẽ hơn. Đối với lĩnh vực Tài chính – Ngân hàng TTQT không chỉ đơn thuần là thực hiện quá trình thanh toán, chuyển tiền giữa các nước, mà nó còn liên quan đến lĩnh vực Tài chính – Ngân hàng của mỗi nước. Đối với mỗi ngân hàng, việc hoàn thiện và phát triển hoạt động TTQT mà nhất là hình thức TDCT có vị trí quan trọng.
Nó không chỉ thuần tuý là một sản phẩm mà còn được coi là một mặt hoạt động không thể thiếu trong hoạt động kinh doanh của các NHTM. Thứ nhất, TTQT gắn liền với hoạt động của hệ thống ngân hàng nội địa với ngân hàng nước ngoài, với các tổ chức tài chính quốc tế, qua đó giúp cho hệ thống ngân hàng của những nước chậm phát triển và những nước đang phát triển tiếp cận được hệ thống giao dịch thanh toán hiện đại, đồng thời củng cố và mở rộng quan hệ hợp tác giữa các ngân hàng nước này với các ngân hàng của nước khác, là điều kiện hình thành hệ thống an ninh tài chính quốc tế, mở rộng các hoạt động đầu tư trực tiếp và gián tiếp. Thứ hai, hoạt động TTQT giúp ngân hàng thu hút thêm được nhiều khách hàng có nhu cầu giao dịch quốc tế. Trên cơ sở đó, quy mô ngân hàng phát triển, tăng khả năng cạnh tranh trong cơ chế thị trường.
8 Thứ ba, trong TTQT, ngân hàng đóng vai trò trung gian. Trong khi thực hiện quá trình thanh toán không những làm tăng thu nhập của ngân hàng bằng những khoản phí, hoa hồng do khách hàng trả cho ngân hàng, mà còn tạo điều kiện cho ngân hàng tăng thêm nguồn vốn do khách hàng mở tài khoản, hoặc ký quỹ tại ngân hàng, đồng thời ngân hàng có thể thực hiện các nghiệp vụ khác như chấp nhận hối phiếu, chiết khấu hối phiếu, cung cấp tín dụng tài trợ cho khách hàng, bảo lãnh thanh toán cho khách hàng… Thứ tư, TTQT còn tạo điều kiện hiện đại hoá công nghệ ngân hàng. Các ngân hàng sẽ áp dụng các công nghệ tiên tiến để hoạt động TTQT được thực hiện nhanh chóng, kịp thời và chính xác, nhằm phân tán rủi ro, góp phần mở rộng qui mô và mạng lưới ngân hàng. Như vậy, thực hiện tốt TTQT sẽ tạo điều kiện nâng cao nghiệp vụ và mở rộng quy mô hoạt động của ngân hàng, nâng cao uy tín của ngân hàng đối với khách hàng cũng như trên trường quốc tế.
Đối với lĩnh vực ngoại giao TTQT tạo điều kiện cho ngoại thương ngày càng được mở rộng và phát triển, từ đó đẩy mạnh hợp tác quốc tế trong lĩnh vực kinh tế, thương mại, đẩy nhanh quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. Ngoài ra, ngoại thương được củng cố và phát triển còn là điều kiện để mở rộng mối quan hệ giữa các nước trong các lĩnh vực văn hóa, xã hội, ngoại giao, hợp tác khoa học kỹ thuật… 1. Các phương thức thanh toán quốc tế Trong TTQT, việc các bên tham gia lựa chọn phương thức thanh toán là một điều kiện rất quan trọng. Phương thức thanh toán: được hiểu là một cách thức nhất định để người bán thu được tiền nhanh nhất, an toàn nhất, và người mua được trả tiền và nhận được hàng chuẩn xác đủ về số lượng, đúng về chất lượng, thời hạn như hợp đồng đã ký.
Tùy theo từng điều kiện, hoàn cảnh cụ thể, các bên đối tác trong quan hệ thương mại quốc tế sẽ lựa chọn và thỏa thuận với nhau cùng sử dụng một phương thức thanh toán phù hợp trên nguyên tắc cùng có lợi [13, tr. Các phương thức 9 TTQT dùng trong ngoại thương hiện nay gồm có: Phương thức chuyển tiền (Remittance), Phương thức mở tài khoản (Open account), Phương thức nhờ thu (Collection of payment), Phương thức TTTDCT (Documentary Credit)… Phương thức chuyển tiền: là phương thức thanh toán trong đó một khách hàng của ngân hàng (gọi là người chuyển tiền) yêu cầu ngân hàng chuyển một số tiền nhất định cho người thụ hưởng ở một địa điểm nhất định [20]. Phương thức mở tài khoản: Người bán xin mở một tài khoản (hoặc sổ) để ghi nợ người mua sau khi người bán đã hoàn thành việc giao hàng hay dịch vụ, định kỳ sau khi kiểm tra, đối chiếu theo thỏa thuận giữa hai bên (tháng, quý, bán niên) người mua trả tiền cho người bán [13, tr. Phương thức nhờ thu: Là phương thức thanh toán trong đó người xuất khẩu sau khi hoàn thành nghĩa vụ giao hàng hoặc cung ứng dịch vụ, tiến hàng ủy thác cho ngân hàng phục vụ mình thu hộ tiền từ người nhập khẩu, dựa trên cơ sở hối phiếu và chứng từ do người xuất khẩu lập ra [13, tr.
Các phương thức chuyển tiền, mở tài khoản, nhờ thu thường được áp dụng thanh toán trong quan hệ bạn hàng tin cậy, tín nhiệm lẫn nhau với điều kiện của thương vụ. Do đó, trong thực tế, khi các bên mua bán chưa có sự tín nhiệm nhau thì TTTDCT là phương thức phổ biến, được các bên tham gia hợp đồng ngoại thương ưa chuộng vì nó bảo vệ quyền lợi và bình đẳng cho tất cả các bên tham gia (người mua, người bán, ngân hàng). Hiện nay ở Việt Nam và các nước trên thế giới, thanh toán bằng thư tín dụng được sử dụng nhiều nhất, chiếm khoảng 80% trong tổng số kim ngạch hàng hoá xuất nhập khẩu. Tổng quan về phương thức thanh toán tín dụng chứng từ 1.
Khái niệm về phương thức thanh toán tín dụng chứng từ và thư tín dụng Phương thức TTTDCT: là phương thức thanh toán trong đó một ngân hàng theo yêu cầu của khách hàng cam kết sẽ trả một số tiền nhất định cho người thụ hưởng hoặc chấp nhận hối phiếu do người này kí phát trong phạm vi số tiền đó nếu người này xuất trình được bộ chứng từ thanh toán phù hợp với những quy định nêu ra trong thư tín dụng [20]. Được hình thành trên cơ sở của hợp đồng ngoại thương, song sau khi được thiết lập, thư tín dụng lại hoàn toàn độc lập với hợp đồng ngoại thương và khi đó phương thức thanh toán này đã được thiết lập. Tính độc lập của L/C được thể hiện ở chỗ nghĩa vụ của ngân hàng đối với người hưởng lợi L/C (nhà xuất khẩu) không phụ thuộc vào mối quan hệ giữa người mua và người bán. Ngân hàng mở L/C chỉ căn cứ vào bộ chứng từ mà nhà xuất khẩu xuất trình và nội dung của L/C đã được mở để trả tiền cho người bán.
Việc thanh toán của ngân hàng không phụ thuộc vào thực trạng của hàng hóa. Nếu thực trạng của hàng hóa không đúng với chứng từ thì hai bên mua bán phải trực tiếp giải quyết với nhau. Trong trường hợp người mua không thanh toán tiền cho ngân hàng thì ngân hàng vẫn phải hoàn thành nghĩa vụ trả tiền cho người bán, thực hiện đầy đủ và đúng với các điều khoản đã được quy định trong L/C. Đặc điểm, chức năng và nội dung chủ yếu của thư tín dụng Đặc điểm - Ngân hàng và các bên tham gia liên quan chỉ giao dịch trên cơ sở chứng từ, không dựa trên hàng hóa hoặc dịch vụ.
- L/C phải chỉ rõ là hủy ngang hay không hủy ngang, nếu không chỉ ra như vậy thì nó sẽ được coi là không hủy ngang. - Chứng từ được coi như không phù hợp với các điều khoản quy định trong L/C nếu: chứng từ mâu thuẫn với các điều khoản quy định của L/C hay các chứng từ mâu thuẫn nhau.