Chương 1: Giới thiệu Chương 2: Tổng quan về Ngân hàng thương mại và công tác thẩm định tín dụng khách hàng cá nhân 6 Chương 3: Tình hình thẩm định tín dụng khách hàng cá nhân tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam – chi nhánh Bến Thành Chương 4: Đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng khách hàng cá nhân tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam – chi nhánh Bến Thành 7 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ CÔNG TÁC THẨM ĐỊNH TÍN DỤNG KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN 2. Tổng quan về tín dụng ngân hàng thương mại 2. Sơ lược về ngân hàng thương mại Có nhiều định nghĩa, khái niệm khác nhau theo quy định từng quốc gia, nhưng nhìn chung, ngân hàng thương mại được hiểu là ngân hàng giao dịch trực tiếp với các cá nhân, doanh nghiệp, tổ chức bằng việc huy động vốn qua hình thức nhận tiền gửi, phát hành giấy tờ có giá, và dùng số tiền huy động được để cho vay, cung cấp các phương tiện thanh toán và dịch vụ ngân hàng cho các đối tượng khác nhau trong nền kinh tế. Ngân hàng thương mại là trung gian tài chính quan trọng nhất trong nền kinh tế, là mạch máu lưu thông tiền tệ, tập trung nguồn vốn nhàn rỗi và đưa đến các cá nhân và tổ chức kinh tế để phục vụ nhu cầu đời sống, kinh doanh và phát triển kinh tế xã hội.
Tùy theo tiêu chí mà có nhiều cách phân loại ngân hàng thương mại khác nhau. Xét theo tính chất và mục tiêu hoạt động thì có Ngân hàng thương mại (Commercial Bank), Ngân hàng Đầu tư (Investment Bank) và Ngân hàng Phát triển (Development Bank). Xét theo đối tượng khách hàng thì có Ngân hàng bán buôn (Wholesale Banking) và Ngân hàng bán lẻ (Retail Banking). Xét theo lĩnh vực hoạt động thì có Ngân hàng chuyên doanh (Limited Speciality Banking) và Ngân hàng đa năng (Synthesis Banking).
Xét theo hình thức sở hữu thì có Ngân hàng thương mại Nhà nước (State Ownes Commercial Banks), Ngân hàng thương mại cổ phần (Joint Stock Commercial Banks), Ngân hàng thương mại liên doanh (Joint Venture Commercial Banks), Chi nhánh Ngân hàng nước ngoài (Foreign Bank Branches) và Ngân hàng 100% vốn nước ngoài. Lý luận chung về tín dụng 2. Khái niệm và phân loại 8 Tín dụng xuất phát từ thuật ngữ Credits. Thuật ngữ này được hiểu là sự cho vay, cho mượn và cũng được hiểu là sự tín nhiệm, sự tin tưởng.
Do đó, tín dụng là sự cho vay, cho mượn dựa trên sự tín nhiệm và uy tín của các bên tham gia. Theo “Giáo trình thẩm định tín dụng” của Trường Đại học Ngân hàng TP.HCM năm 2014 thì “Tín dụng là quan hệ vay mượn, quan hệ sử dụng vốn lẫn nhau giữa người đi vay và người cho vay theo nguyên tắc hoàn trả. Nói cách khác tín dụng là sự chuyển giao tạm thời quyền sử dụng một lượng giá trị được biểu hiện bằng hình thái tiền tệ hoặc tài sản hiện vật từ người cho vay sang người vay với những điều kiện nhất định để sau một thời gian nhất định người cho vay thu được một lượng giá trị danh nghĩa lớn hơn ban đầu.” Như vậy có thể hiểu tín dụng là một phạm trù kinh tế phản ánh mối quan hệ giao dịch giữa hai chủ thể với ba nội dung. Một là người cho vay chuyển giao cho người đi vay một lượng giá trị nhất định.
Giá trị này có thể dưới hình thái tiền tệ hoặc dưới hình thái hiện vật như: hàng hoá, máy móc, thiết bị, bất động sản. Hai là người đi vay chỉ được sử dụng tạm thời trong một thời gian nhất định, sau khi hết thời hạn sử dụng theo thoả thuận, người đi vay phải hoàn trả cho người cho vay. Ba là giá trị hoàn trả thông thường lớn hơn giá trị lúc cho vay ban đầu hay nói cách khác người đi vay phải trả thêm phần lợi tức (lãi vay). Tín dụng được mô tả theo sơ đồ sau: 1.
Cho vay vốn Chủ thể cho vay Chủ thể đi vay 2. Hoàn trả vốn và lãi Tóm lại, tín dụng là phạm trù kinh tế phản ánh mối quan hệ sử dụng vốn lẫn nhau giữa các chủ thể trong nền kinh tế trên nguyên tắc hoàn trả cả vốn lẫn lãi. Tùy chủ thể và hình thức giao dịch mà ta phân loại tín dụng thành Tín dụng thương mại, Tín dụng ngân hàng, Tín dụng nhà nước, Tín dụng tiêu dùng, Tín dụng thuê mua, Tín dụng quốc tế. Vai trò và đặc điểm Vai trò quan trọng nhất của tín dụng là huy động vốn và cho vay vốn tiền tệ trên nguyên tắc hoàn trả có lãi.
Chức năng này gồm hai loại nghiệp vụ được tách hẳn ra là huy động vốn tạm thời nhàn rỗi và cho vay vốn đối với các nhu cầu cần thiết của nền kinh tế. Vai trò thứ hai của tín dụng là kiểm soát các hoạt động kinh tế thông qua các quan hệ tín dụng đối với các tổ chức và cá nhân. Phân tích theo khái niệm, tín dụng sẽ có ba đặc điểm. Thứ nhất, tín dụng là có lòng tin.
Tín dụng là sự cho vay có hứa hẹn thời gian hoàn trả. Sự hứa hẹn biểu hiện “mức tín nhiệm” hay “lòng tin” của người cho vay vào người đi vay. Yếu tố lòng tin tuy vô hình nhưng không thể thiếu trong quan hệ tín dụng, đây là yếu tố bao trùm trong hoạt động tín dụng, là điều kiện cần cho quan hệ tín dụng phát sinh. “Lòng tin” được biểu hiện từ nhiều phía.
Nếu người cho vay không tin tưởng vào khả năng hoàn trả của người đi vay và ngược lại, nếu người đi vay cảm nhận thấy người cho vay không thể đáp ứng được yêu cầu về khối lượng tín dụng, về thời hạn vay,…thì quan hệ tín dụng đều không thể phát sinh. Tuy nhiên, lòng tin của người cho vay đối với người đi vay quan trong hơn nhiều vì người cho vay giao phó tiền bạc hoặc tài sản của họ cho người khác sử dụng. Thứ hai, tín dụng có tính thời hạn. Khác với các quan hệ mua bán thông thường khác (sau khi trả tiền người mua trở thành chủ sở hữu của vật mua hay còn gọi là “mua đứt bán đoạn”), quan hệ tín dụng chỉ trao đổi quyền sử dụng giá trị khoản vay chứ không trao đổi quyền sở hữu khoản vay.
Người cho vay giao giá trị khoản vay dưới dạng hàng hoá hay tiền tệ cho người kia sử dụng trong một thời gian nhất định. Sau khi khai thác giá trị sử dụng của khoản vay trong thời hạn cam kết, người đi vay phải hoàn trả toàn bộ giá trị khoản vay cộng thêm khoản lợi tức hợp lý kèm theo như cam kết đã giao ước với người cho vay. Thứ ba, tín dụng có tính hoàn trả. Đây là đặc trưng thuộc về bản chất vận động của tín dụng và là dấu ấn để phân biệt phạm trù tín dụng với các phạm trù kinh tế khác.
Sau khi kết thúc một vòng tuần hoàn của tín dụng, hoàn thành một chu kỳ 10 sản xuất trở về trạng thái tiền tệ, vốn tín dụng được người đi vay hoàn trả cho người cho vay kèm theo một phần lãi như đã thoả thuận. Một mối quan hệ tín dụng được gọi là hoàn hảo nếu được thực hiện với đầy đủ các đặc trưng trên, nghĩa là người đi vay hoàn trả được đầy đủ gốc và lãi đúng thời hạn. Tổng quan về tín dụng Ngân hàng 2. Khái niệm Theo Khoản 16 Điều 4 Luật các tổ chức tín dụng Việt Nam số 47/2010/QH12 thì “Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi.” Theo “Giáo trình thẩm định tín dụng” của Trường Đại học Ngân hàng TP.HCM năm 2014 thì “Tín dụng Ngân hàng là quan hệ tín dụng giữa các ngân hàng với các công ty, tổ chức kinh tế, các tổ chức và cá nhân được thực hiện dưới hình thức ngân hàng đứng ra huy động vốn bằng tiền và cho vay (cấp tín dụng) đối với các đối tượng nói trên.” Chủ thể tham gia trong quan hệ tín dụng ngân hàng là ngân hàng, nhà nước, doanh nghiệp và hộ dân cư.
Trong đó ngân hàng đóng vai trò vừa là người đi vay vừa là người cho vay, hay nói cách khác, ngân hàng là một trung gian tài chính luân chuyển vốn từ nơi tạm thừa vốn sang nơi thiếu. Giá (lãi suất) của khoản vay do ngân hàng ấn định cho khách hàng vay là mức lợi tức mà khách hàng phải trả trong suốt khoản thời gian tồn tại của khoản vay. Đối tượng được sử dụng trong quan hệ tín dụng là tiền, do đó, nó không chịu sự giới hạn theo hàng hoá, vận động đa phương đa chiều. Đây chính là ưu điểm nổi bật và là đặc điểm khác biệt giữa tín dụng Ngân hàng với các loại hình tín dụng khác.
Vì ưu điểm đó mà tín dụng ngân hàng trở thành hình thức tín dụng chủ yếu chiếm vị trí đặc biệt quan trọng trong nền kinh tế với các hình thức hoạt động chuyên nghiệp, đa dạng và phong phú. 11 Có nhiều hình thức phân loại tín dụng ngân hàng. Một là phân loại theo phương thức cho vay sẽ có cho vay từng lần, cho vay hạn mức và thấu chi tài khoản thanh toán. Hai là phân loại theo thời hạn vay, bao gồm cho vay ngắn hạn là khoản vay từ 12 tháng trở xuống, cho vay trung hạn là khoản vay từ trên 12 tháng đến dưới 5 năm và cho vay dài hạn là khoản vay trên 5 năm.
Ba là phân loại theo mục đích sử dụng vốn thì có năm mục đích chính là cho vay sản xuất kinh doanh, cho vay tiêu dung, cho vay bất động sản, cho vay công nghiệp và thương mại và cho vay phát triển nông nghiệp nông thôn. Bốn là phân loại theo mức độ tín nhiệm tức là cho vay có đảm bảo bằng tài sản hoặc cho vay không có đảm bảo bằng tài sản. Năm là phân loại theo xuất xứ tín dụng thì gồm cho vay trực tiếp hoặc cho vay gián tiếp qua hình thức chiết khấu thương mại, bao thanh toán. Sáu là phân loại theo khách hàng vay vốn chia ra hai đối tượng là khách hàng doanh nghiệp và khách hàng cá nhân.
Đặc điểm Tín dụng ngân hàng mang đầy đủ các đặc điểm của tín dụng nói chung, đồng thời có những đặc điểm riêng. Trong đó, đặc điểm nổi bật nhất là đối tượng của tín dụng Ngân hàng là vốn tiền tệ, nghĩa là ngân hàng huy động vốn và cho vay bằng tiền. Điều này phân biệt tín dụng ngân hàng khác hẳn với tín dụng thương mại sử dụng hàng hóa là đối tượng giao dịch.