chương I, điều 4 Luật Doanh nghiệp 2014 3 Theo mục 14, điều 3, Nghị định số 88/1999/NĐ-CP ngày 01/09/1999 10 và các công trình khác. Thiết bị lắp đặt vào công trình bao gồm thiết bị công trình và thiết bị công nghệ. Thiết bị công trình là các thiết bị được lắp đặt vào công trình xây dựng theo thiết kế xây dựng. Thiết bị công nghệ là các thiết bị nằm trong dây chuyền công nghệ được lắp đặt vào công trình xây dựng theo thiết kế công nghệ.2 Đặc điểm của doanh nghiệp xây lắp Mỗi doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh khác nhau sẽ có những đặc điểm riêng của ngành.
Đối với DNXL, đặc trưng của ngành thể hiện ở sản phẩm xây lắp, tổ chức quản lý, kinh doanh và tình hình tài chính. Việc nghiên cứu các đặc điểm này, giúp Ngân hàng nắm rõ những hạn chế và đề ra những phương án nhằm nâng cao chất lượng thẩm định cho vay doanh nghiệp xây lắp.1 Về sản phẩm xây lắp - Sản phẩm của các DNXL có quy mô lớn, kết cấu phức tạp, mang tính chất riêng lẻ Mỗi đối tượng xây lắp và từng công trình, hạng mục công trình, đòi hỏi yêu cầu kinh nghiệm, kết cấu, hình thức, địa điểm xây dựng thích hợp, được xác định cụ thể trên từng thiết kế dự toán của từng đối tượng riêng biệt. Do tính chất đơn chiếc, riêng lẻ nên chi phí bỏ ra để thi công các công trình và kết cấu không đồng nhất như các sản phẩm công nghiệp được sản xuất hàng loạt. Bên cạnh đó, với đặc điểm quy mô (thể tích) lớn và phức tạp của sản phẩm xây lắp dẫn đến chu kỳ sản xuất dài, vốn đầu tư bỏ vào để xây dựng dễ bị ứ đọng, gây lãng phí, hoặc ngược lại nếu thiếu vốn sẽ làm công tác thi công bị gián đoạn, kéo dài thời gian xây dựng.
Sản phẩm xây lắp có tính chất cố định, nơi sản xuất gắn liền với nơi tiêu thụ sản phẩm Các tư liệu sản xuất (công nhân, thiết bị thi công, máy móc, .) phải di chuyển theo địa điểm nơi đặt công trình. Đặc điểm này làm khó khăn cho công tác tổ chức sản xuất. Việc bố trí các công trình tạm phục vụ thi công (kho tàng, lán trại, .) phối hợp với các phương tiện, máy móc thiết bị nảy phát sinh nhiều vấn đề phức tạp và 11 tốn kém. Do đó, để giảm thiểu lãng phí trên đòi hỏi trước khi khởi công xây dựng công trình phải làm thật tốt công tác chuẩn bị đầu tư và chuẩn bị xây dựng.
Trình độ tổ chức quản lý của đơn vị xây lắp ảnh hưởng lớn đến hiệu quả kinh doanh của chính tổ chức đó. - Sản phẩm xây lắp chịu ảnh hưởng của điều kiện thiên nhiên, khí hậu, địa chất, thuỷ văn. Các điều kiện tự nhiên ảnh hưởng trực tiếp tới chất lượng và giá cả (chi phí xây dựng) sản phẩm xây lắp. Những khó khăn do tác động của thời tiết, khí hậu xảy ra là không thể lường trước được.
Rủi ro xảy ra tác động tới tiến độ thi công công trình, giá thành công trình, thậm chí cả chất lượng công trình. Nhà thầu còn phải chú ý đến các biện pháp quản lý máy thi công và vật liệu ngoài trời. Việc thi công kéo dài và thi công ngoài trời còn tạo nhiều nhân tố gây nên những khoản thiệt hại lớn. “Do đó, các doanh nghiệp xây lắp phải lập tiến độ thi công, tổ chức thi công hợp lý, có phương án sử dụng cũng như bảo quản nguyên, nhiên vật liệu để tránh bị tác động xấu của các điều kiện tự nhiên và quản lý hiệu quả chi phí.” - Sản phẩm xây lắp được tiêu thụ theo giá dự toán hoặc giá thỏa thuận với chủ đầu tư (giá đấu thầu) “Do đó tính chất hàng hóa của sản phẩm xây lắp không thể hiện rõ.
Đối tượng hạch toán chi phí cụ thể trong xây lắp là các hạng mục công trình, các giai đoạn của hạng mục hay nhóm hạng mục. Do đó, doanh nghiệp xây lắp phải lập dự toán chi phí và tính giá thành theo từng hạng mục công trình hay giai đoạn của hạng mục công trình.” - Sản phẩm xây lắp liên quan đến nhiều ngành khác nhau trong quá trình xây dựng và sử dụng Tài sản cố định của các ngành khác nhau là sản phẩm của ngành xây lắp. Do vậy, chất lượng sản phẩm xây lắp liên quan đến chất lượng đầu tư của các ngành và hiệu quả đầu tư trong nền kinh tế. - Sản phẩm xây lắp được sử dụng trong thời gian dài 12 Thời gian sử dụng sản sản phẩm xây lắp rất lâu dài.
Các DNXL phải tổ chức quản lý và hạch toán sao cho chất lượng công trình đảm bảo đúng dự toán thiết kế, bảo hành công trình (Chủ đầu tư thường giữ lại 3->5% giá trị công trình).2 Về tổ chức quản lý và sản xuất kinh doanh Hoạt động kinh doanh của DNXL là hoạt động mang tính đặc thù, sản phẩm của họ là những công trình xây dựng (từ công trình xây dựng công nghiệp đến dân dụng, cầu đường, cơ sở hạ tầng, xây lắp điện…), các DNXL chỉ sản xuất những sản phẩm mà chủ đầu tư đặt hàng và được tiêu thụ khi chủ đầu tư chấp thuận theo các điều kiện đã ký kết.3 Về tình hình tài chính của doanh nghiệp xây lắp - Nhu cầu vốn lưu động thường chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nhu cầu vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh DNXL có tính chất hoạt động riêng nên có cơ cấu vốn đặc thù so với ngành công nghiệp và các ngành khác. Trong hoạt động SXKD, nhu cầu vốn lưu động (vốn kinh doanh ngắn hạn) chiếm tỷ trọng lớn nhất. DNXL thường vay vốn ngân hàng tài trợ vốn lưu động phục vụ thi công các công trình. Ngân hàng chỉ tham gia tài trợ một phần đối với nhu cầu đầu tư mới, thay thế và cải tiến máy móc thiết bị, nâng cao năng lực sản xuất, phần còn lại các DNXL phải bỏ vốn tự có của mình.
- Tốc độ chu chuyển vốn trong các doanh nghiệp xây lắp thường không cao Do đặc điểm xây dựng một đơn vị sản phẩm đòi hỏi phải bỏ nhiều chi phí, thời gian thi công kéo dài dẫn đến tình trạng ứ đọng vốn sản xuất ở các hạng mục công trình thi công dở dang. Khi công trình hoàn thành, công tác nghiệm thu, quyết toán và thanh toán còn phải phụ thuộc vào chủ đầu tư. Các DNXL thường xuyên bị chiếm dụng vốn trong thời gian dài nên tốc độ quay vòng vốn lưu động thường rất thấp, nhu cầu vốn lưu động cần thiết cho thi công lớn. Trong khi đó vốn chủ hữu chiếm tỷ lệ nhỏ trên tổng nguồn vốn nên để đủ vốn hoạt động, các DNXL phải huy động vốn bên ngoài mà chủ yếu là vốn vay ngân hàng.
- Khả năng tự chủ về tài chính thấp Thực tế hiện nay, vốn vay ngân hàng và vốn chiếm dụng khác chiếm tới 80- 13 85% cơ cấu tổng nguồn vốn của DNXL, còn lại là vốn chủ sở hữu. Do đó, hiệu quả kinh doanh và tình hình tài chính của doanh nghiệp chịu áp lực nặng nề bởi chi phí lãi vay. khả năng bổ sung vốn chủ sở hữu và đầu tư nâng cao năng lực sản xuất thi công thường hạn chế do ợi nhuận đạt được không cao. “ Ngoài ra, hiện tại, nhiều DNXL không chỉ hoạt động dưới hình thức nhà thầu thi công mà còn tiến hành đầu tư các dự án đầu tư bất động sản, thủy điện, kinh doanh nhà hàng khách sạn… để phát triển hoạt động, tăng năng lực tài chính, hiệu quả kinh doanh.
“Do đó, nhu cầu vốn vay của các doanh nghiệp này ngày càng tăng cả về vốn ngắn hạn và trung dài hạn; các ngân hàng khi thẩm định, tài trợ vốn cho doanh nghiệp xây lắp cũng phải chú trọng đến tính chất hoạt động đa ngành, đa nghề của DNXL để quyết định mức cho vay, điều kiện cho vay phù hợp.3 Vai trò của doanh nghiệp xây lắp đối với sự phát triển của nền kinh tế “”DNXL có vị trí rất quan trọng trong nền kinh tế mỗi quốc gia, kể cả các quốc gia có trình độ phát triển cao. Trong xu thế hội nhập và toàn cầu hoá như hiện nay thì các quốc gia đều chú ý hỗ trợ các DNXL nhằm huy động tối đa các nguồn lực và tăng sức cạnh tranh cho sản phẩm.Có thể thấy vai trò của DNXL trong nền kinh tế như sau: - Doanh nghiệp xây lắp đóng góp lớn vào tăng trưởng kinh tế quốc dân Ngành xây dựng là một trong những ngành đóng vai trò là xương sống của nền kinh tế và trực tiếp hình thành nên hệ thống tài sản cố định cho nền kinh tế quốc dân. Một cơ thể chỉ có thể khỏe mạnh và phát triển khi hệ thống xương sống vững chắc và phát triển đóng vai trò là nền tảng và là lực đỡ cho toàn cơ thể, do đó, ở mỗi quốc gia ngành xây dựng phát triển mạnh sẽ tạo điều kiện tốt cho việc trang bị cơ sở vật chất kỹ thuật của quốc gia, tạo tiền đề cho phát triển các ngành kinh tế khác trong nền kinh tế. Do đó, doanh nghiệp xây lắp là đơn vị đóng góp lớn cho sự tăng trưởng nền kinh tế quốc dân.
- Doanh nghiệp xây lắp có sự ảnh hưởng đến các doanh nghiệp khác trong nền kinh tế 14 Doanh nghiệp xây lắp sử dụng các sản phẩm đầu vào là vật liệu xây dựng của rất nhiều ngành kinh tế đóng vai trò là ngành cung ứng như: Ngành thép, xi măng, gạch ốp lát, đồ gỗ…. Sự phát triển của DNXL sẽ tạo ra nhu cầu kéo theo sự phát triển của các doanh nghiệp khác ở các ngành có liên quan. - Doanh nghiệp xây lắp giải quyết những vấn đề an sinh xã hội Trong các loại hình sản xuất kinh doanh thì DNXL có sức lan toả trong mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội nhất, là doanh nghiệp chiếm đa số và chủ yếu trong nền kinh tế. Theo đó, loại hình doanh nghiệp này đóng vai trò quan trọng, không những tạo việc làm, tăng thu nhập cho người lao động mà còn góp phần tạo ra thu nhập và nâng cao mức sống cho người dân, giúp huy động các nguồn lực xã hội cho đầu tư phát triển, xóa đói giảm nghèo…” 1.2 Khái quát về hoạt động cho vay doanh nghiệp xây lắp của Ngân hàng thương mại 1.