Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ THUYẾT VỀ THẨM ĐỊNH TÀI CHÍNH DỰ ÁN ĐẤU TƯ TRONG CHO VAY CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 Hoạt động cho vay trung dài hạn của ngân hàng thương mại 1. Khái niệm, đặc điểm hoạt động cho vay trung dài hạn của ngân hàng thương mại * Khái niệm Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng thực hiện hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung thường xuyên là nhận tiền gởi, sử dụng số tiền này để cấp tín dụng, cung ứng dịch vụ thanh toán, và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan (Nguyễn Thị Mùi, 2006) Với tư cách là một trung gian tài chính trong nền kinh tế, các hoạt động chủ yếu của NHTM là huy động vốn, cấp tín dụng và cung cấp các dịch vụ khác. Hoạt động chủ yếu và quan trọng bậc nhất của NHTM là cấp tín dụng cho các doanh nghiệp, các tố chức và cá nhân. Tín dụng là loại tài sản chiếm tỷ trọng lớn nhất, đem lại thu nhập từ lãi cao nhất và cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro ở phần lớn các NHTM.
Loại tài sản này được phân chia theo nhiều tiêu thức khác nhau. Phân chia theo thời gian, gồm có tín dụng ngắn hạn, trung hạn và dài hạn. Vì thời gian có liên quan mật thiết đến tính an toàn và sinh lợi của khoản tín dụng, nên phân chia theo thời gian có ý nghĩa quan trọng đối với ngân hàng (Phan Thị Thu Hà, 2007). Tín dụng trung và dài hạn “ là hoạt động tài chính cho khách hàng vay vốn trung và dài hạn nhằm thực hiện các dự án phát triển sản xuất kinh doanh, phục vụ đời sống”.
Tùy theo từng quốc gia, từng thời kỳ mà hoạt động tín dụng được quy định cụ thể. Hiện nay, thời hạn của tín dụng trung và dài hạn ở 5 Việt Nam được Ngân hàng Nhà nước quy định trong Điều 8, Quy chế cho vay của tô chức tín dụng đối với khách hàng (12/2001) như sau: +Thời hạn cho vay trung hạn từ 1 - 5 năm + Thời hạn cho vay dài hạn là từ 5 năm trở lên nhưng không quá thời hạn hoạt động còn lại theo quyết định thành lập hoặc giấy phép thành lập đối với pháp nhân và không quá 15 năm đổi với các dự án phục vụ đời sống Mục đích của hoạt động tín dụng trung và dài hạn là để đầu tư dự án, xây dựng mới, mua tài sản cố định, mở rộng sản xuất kinh doanh, đôi mới công nghệ.nhằm mục tiêu lợi nhuận Hoạt động tín dụng trung và dài hạn có các hình thức sau: - Hoạt động tín dụng theo hình thức dự án đầu tư - Hình thức cho thuê tài chính - Thấu chi - Bảo lãnh trung và dài hạn * Đặc điểm tín dụng trung và dài hạn Thứ nhất, thời gian hoàn vốn chậm Thời hạn hoàn vốn của tín dụng trung và dài hạn thường rất dài. Đây được coi là đặc điểm không thể thiếu trong tín dụng trung và dài hạn. Mục tiêu của tín dụng trung và dài hạn là nhằm hình thành mới hoặc hiện đại hóa cơ sở vật chất kỳ thuật của doanh nghiệp.
Để thực hiện được mục đích đó cần một thời gian rất dài và thời hạn này phụ thuộc vào tính chất, đặc điểm của chu kỳ sản xuất kinh doanh, thời gian thi công thực hiện công trình, quy mô và mức độ phức tạp của công trình, công nghệ sản xuất. của doanh nghiệp Thứ hai, lãi suất cao Tín dụng trung và dài hạn diễn ra trong một thời gian dài. Trong khoảng thời gian dài đó, việc sử dung vốn vay cũng như việc thực hiện các hoạt động khác của doanh nghiệp vay vốn luôn bị chi phối, ảnh hướng trực 6 tiếp, gián tiếp bởi vô vàn các yếu tố phức tạp như: tình hình chính trị, tình hình kinh tế - xã hội, các yếu tố thuộc về môi trường tự nhiên: hạn hán, lũ lụt, động đất. Sự biến động này không thể dự đoán hết được và nó có thể tác động và gây nên những hậu quả, tổn thất, thiệt hại cho bên vay cũng như Ngân hàng.
Chính vì thế cho vay trung và dài hạn chứa đựng nhiều rủi ro hơn trong cho vay ngắn hạn và thông thường lãi suất trong cho vay trung và dài hạn cao hon lãi suất cho vay ngắn hạn. Thứ ba, giá trị khoản vay lớn Đối tượng chủ yếu của tín dụng trung và dài hạn là chính là những chi phí đê hình thành nên cơ sở vật chất kỹ thuật mới hoặc cải tạo, mở rộng, nâng cấp cơ sở vật chất kỳ thuật đã có san của doanh nghiệp. Đây là hoạt động rất đa dạng và phức tạp, cần phải có sự sắp xếp, bổ trí các công việc một cách khoa học, tiến hành thực hiện theo một trình tự nhất định, có sự quản lý chặt chẽ. Đặc biệt đòi hỏi không thể thiếu được đó là doanh nghiệp phải có một khối lượng vốn lớn nhằm tạo ra một tài sản cố định, một năng lực sản xuất mới.
Vì vậy, giá trị khoản vay lớn cũng là một đặc điểm của tín dụng trung và dài hạn. Quy trình cho vay * Giai đoạn xét duyệt trước khi cho vay: Sau khi nhận từ khách hàng hồ sơ xin vay (bao gồm đơn xin vay, luận chứng kinh tế kỹ thuật, phương án vay và trả nợ, báo cáo tình hình tài chính, hồ sơ tài sản thế chấp.) và hồ sơ ban đầu (quyết định thành lập doanh nghiệp, giấy phép đăng ký kinh doanh.) cán bộ tín dụng thẩm định theo trình tự sau: + Hồ sơ pháp lý: theo đúng thủ tục pháp lý +Tư cách pháp nhân của doanh nghiệp + Thẩm định tính khả thi của phương án vay vốn: thẩm định về phương 7 diện thị trường, kỹ thuật, tài chính, điều kiện vay vốn, hiệu quả kinh tế xã hội Sau khi xem xét các yếu tố trên, cán bộ tín dụng sè có đánh giá tong quát, ghi ý kiên trình trưởng phòng, trưởng phòng tín dụng, kiêm tra lại nội dung tờ trình và ghi ý kiến trình giám đốc. Giám đốc là người duyệt và quyết định từ chối hay đồng ý cho vay. Thời gian thẩm định không quá 20 ngày làm việc kể từ khi nhận đủ hồ sơ của khách hàng.
Thời gian quyết định cho vay không quá 25 ngày kê từ ngày nhận đủ hồ sơ của bộ phận thẩm định. *Giai đoạn phát tiền vay: Đối với mỗi hợp đồng vay vốn, khách hàng có thể rút vốn nhiều lần, cán bộ tín dụng có nhiệm vụ theo dõi, giám sát việc rút vốn vay từng lần của khách hàng đê đảm bảo vốn rút ra đúng nội dung yêu cầu chi trả, phù hợp với mục đích vay. Đồng thời, cán bộ tín dụng phải thường xuyên bám sát tình hình sản xuất kinh doanh của khách hàng để sớm phát hiện những lệch lạc trong việc sử dụng vốn vay, phát hiện những khó khăn mà khách hàng gặp phải để có cơ hội cố vấn tốt cho khách hàng, tránh rủi ro cho ca hai bên. *Giai đoạn thu nợ gốc và lãi: Việc trả nợ gốc và lãi do khách hàng và ngân hàng thỏa thuận với nhau.
Ngu đến hạn trả nợ, khách hàng không trả thì ngân hàng được quyền trích tài khoản các loại để thu nợ. Trình tự trả lãi, phí, gốc có thể thay đồi cho linh hoạt, phù hợp với tình hình thực tế và trên cơ sở đề nghị của doanh nghiệp. Trong giai đoạn này, cán bộ tín dụng thường xuyên kiêm tra việc sử dụng tài sản hình thành từ vốn vay, cùng kế toán viên theo dõi kỳ hạn nợ, chủ động lập giấy thu nợ. Cán bộ tín dụng xem xét các báo cáo tài chính định kỳ của doanh nghiệp, nếu thấy có vấn đề, cán bộ tín dụng có ý kiến đê doanh nghiệp kịp thời xử lý.
Trước khi đến hạn trả nợ vay, nếu khách hàng không có khả năng trả 8 nợ đúng hạn vì lý do khách quan và có đơn xin gia hạn nợ, cán bộ tín dụng xuống đơn vị tìm hiểu và kiểm tra thực tế, nếu thấy do nguyên nhân khách quan ngoài phạm vi quản lý điều hành của đơn vị thì cán bộ tín dụng trình Ban giám đốc giải quyếtcho gia hạn nợ theo đúng quy định, chế độ cho vay của Ngân hàng Nhà nước. Thẩm định tài chính dự án đầu tư trong hoạt động cho vay trung dài hạn của ngân hàng thương mại 1.1 Những vấn đề cơ bản về dự án đầu tư 1.1 Khái niệm Theo quan điểm của các nhà kinh tế học hiện đại thì “DAĐT là một tập hợp các hoạt động đặc thù nhằm tạo nên một thực tế mới có phương pháp trên cơ sở các nguồn lực nhất định” (Vũ Công Tuấn, 2012). Ở Việt Nam, khái niệm DAĐT được trình bày trong nghị định 52/1999 NĐ-CP về quychế quản lý đầu tư và xây dựng cơ bản: “ DAĐT là tập hợp các đề xuất có liên quantới việc bỏ vốn để tạo vốn, mở rộng hoặc cải tạo những cơ sở vật chất nhất định nhằm đạt được sự tăng trưởng về số lượng hoặc duy trì, cải tiến, nâng cao chất lượng của sảnphẩm hoặc dịch vụ trong khoảng thơì gian nhất định”. Xét về mặt hình thức, DAĐT là một tập hồ sơ được trình bày một cách có hệ thống và chi tiết kế hoạch các hoạt động, chi phí phải bỏ ra để đạt được những mục tiêu nhất định trong một tương lai xác định.
Theo luật đầu tư năm 2005: “Dự án đầu tư là tập hợp các đề xuất bỏ vốn trung và dài hạn để tiến hành các hoạt động đầu tư trên địa bàn cụ thể, trong khoảng thời gian xác định” Xét về mặt nội dung, DAĐT được hiểu là một tập hợp các hoạt động đặc thù liên kết chặt chẽ và phụ thuộc lẫn nhau nhằm đạt được trong tương lai 9 các mục tiêu nhất định với nguồn lực và thời gian xác định. Vậy, DAĐT phải nhằm việc sử dụng có hiệu quả các yếu tố đầu vào để thu được đầu ra phù hợp với những mục tiêu cụ thể. Đầu vào là lao động, nguyên vật liệu, đất đai, tiền vốn… Đầu ra là các sản phẩm dịch vụ hoặc là sự giảm bớt đầu vào. Sử dụng đầu vào được hiểu là sử dụng các giải pháp kỹ thuật công nghệ, biện pháp tổ chức quản trị và các luật lệ… 1.2 Đặc trưng của dự án đầu tư - Dự án đầu tư có mục đích, kết quả xác định Tất cả các dự án đều phải có kết quả được xác định rõ.
Mỗi dự án lại bao gồm một tập hợp nhiều nhiệm vụ cần được thực hiện. Mỗi nhiệm vụ cụ thể lại có một kết quả riêng, độc lập. Tập hợp các kết quả cụ thể của các nhiệm vụ hình thành nên kết quả chung của dự án.