Chương 1.Những cơ sở lý luận về hoạt động và nâng cao chất lượng hoạt động của Trung tâm thông tin tín dụng Quốc gia. Thực trạng hoạt động và chất lượng hoạt động của Trung tâm thông tin tín dụng Quốc gia - Ngân hàng nhà nước Việt Nam Chương 3. Giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng hoạt động của Trung tâm thông tin tín dụng Quốc gia - Ngân hàng nhà nước Việt Nam. NHỮNG CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG VÀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNGCỦA TRUNG TÂM THÔNG TIN TÍN DỤNG QUỐC GIA 1.
Khái niệm và lợi ích của Trung tâm thông tin tín dụng Quốc gia. Khái niệm về trung tâm thông tin tín dụng Quốc gia Trung tâm thông tin tín dụng Quốc gia (CIC), hay văn phòng thông tin tín dụng (Credit Bureaus), cơ quan đăng ký tin tín dụng (Credit Registries), hãng thông tin tín dụng (Credit Reporting Agency)… là tổ chức cung cấp dịch vụ thông tin tín dụng (Credit Reporting Service Provider), điều hành quá trình trao đổi thông tin tín dụng qua mạng. Quá trình trao đổi thông tin tín dụng qua mạng là một cơ chế cho phép thu thập, xử lý và cung cấp thông tin tín dụng cho người sử dụng dữ liệu, cũng như cung cấp các giá trị gia tăng dựa trên cơ sở dữ liệu này. TTTTTD thu thập dữ liệu từ các chủ nợ và các nguồn công khai có sẵn về lịch sử tín dụng của người vay; xử lý, lưu trữ và cung cấp theo một định dạng nhất định cho người sử dụng.
TTTTTD có trách nhiệm chính trong đảm bảo an toàn và hiệu quả của hệ thống thông tin tín dụng; đồng thời chịu trách nhiệm về tính bền vững của hoạt động, báo cáo cho các cổ đông (nếu có), tuân thủ các yêu cầu quản lý, cơ chế quản trị, vấn đề nhân sự, và xử lý khiếu nại của người tiêu dùng. TTTTTD khác với các cơ quan xếp hạng tín dụng, chẳng hạn như Standard & Poors, Moody &và Fitch ở chỗ, các cơ quan xếp hạng tín dụng thu thập thông tin tài chính của các công ty lớn; tiến hành phân tích chi tiết hoạt động kinh doanh, tài chính và quản trị của công ty; và sau đó, công bố thứ hạng tín dụng. Trong khi đó, TTTTTD tập trung vào các chủ nợ nhỏ hơn; họ tập trung vào hồ sơ trả nợ vay và dựa trên phân tích thống kê số lượng mẫu lớn khách hàng vay chứ không phân tích sâu các công ty cá thể. Lợi ích của Trung tâm thông tin tín dụng Quốc gia: Hệ thống thông tin tín dụng, mà nòng cốt là các TTTTTD, là một yếu tố quan trọng của cơ sở hạ tầng tài chính một quốc gia: chúng góp phần tăng cường khả năng tiếp cận tín dụng; hỗ trợ cho vay có trách nhiệm và giảm tổn thất cho vay; và nâng cao năng lực giám sát ngân hàng và giám sát các rủi ro hệ thống.
Thứ nhất, TTTTTD giảm hiện tượng thông tin bất đối xứng bằng cách cung cấp lịch sử tín dụng của người đi vay cho các chủ nợ tiềm năng, và do đó, là một công cụ hiệu quả trong việc giảm thiểu các vấn đề lựa chọn bất lợi và rủi ro đạo đức. Thông qua thông tin tín dụng và các công cụ bắt nguồn từ nó (ví dụ như chấm điểm tín dụng), các chủ nợ có thể dự đoán tốt hơn triển vọng trả nợ của khách hàng tiềm năng dựa trên hành vi trả nợ của con nợ trong quá khứ và hiện tại và mức độ nợ của người vay. Mặt khác, việc chia sẻ thông tin tín dụng có liên quan sẽ có thêm lợi ích từ việc giảm sự độc quyền thông tin của người cho vay đối với người vay.Ví dụ, các ngân hàng có mối quan hệ lâu dài với khách hàng vay của họ biết được lịch sử tín dụng của những khách hàng vay này, trong khi các tổ chức cho vay khác không có quyền truy cập vào thông tin này.Điều này cho phép ngân hàng tính lãi suất cao hơn và trục lợi từ những người vay có chất lượng cao (Padilla và Pagano 1997). Thứ hai, hệ thống thông tin tín dụng mạnh có thể nắm bắt hầu hết các thông tin về người vay và thậm chí cả những sự kiện mà cán bộ tín dụng không biết được.
Hơn nữa, các chủ nợ thường có thể truy cập thông tin tín dụng với chi phí thấp hơn và cũng tiết kiệm thời gian hơn so với các cơ chế cho vay truyền thống. Đồng thời, hệ thống thông tin tín dụng hỗ trợ việc ra quyết định tín dụng không thiên vị, bởi vì những quyết định đó được đưa ra dựa trên các dữ liệu khách quan và đúng đắn. Tính năng mới này hỗ trợ một bộ phận dân cư mà trong quá khứ, có thể đã bị từ chối cấp tín dụng do một số định kiến (ví dụ như giả định rằng một cá nhân có thu nhập thấp luôn luôn là một con nợ xấu). Thứ ba, hệ thống thông tin tín dụng cũng góp phần rèn luyện hành vi của người vay vào khuôn khổ kỷ luật.
Một lịch sử tín dụng tốt tạo điều kiện tiếp cận tín 5 dụng và thường có thể tránh việc người vay phải sử dụng tài sản thế chấp hữu hình cho các khoản vay.Khách nợ hiểu được điều này sẽ có động cơ trả nợ đúng thời hạn để tiếp tục tiếp cận với các sản phẩm tín dụng với những điều kiện thuận lợi. Thứ tư, NHTW, cơ quan giám sát tài chính sử dụng dữ liệu thông tin tín dụng phục vụ hoạt động giám sát an toàn vĩ mô và vi mô, giám sát các rủi ro hệ thống và hình thành bộ dữ liệu thống kê vĩ mô về hoạt động của hệ thống tài chính. Phân tích quản lý rủi ro tín dụng, các quy định về dự phòng và an toàn vốn, chẳng hạn, cũng sẽ hiệu quả và dễ dàng hơn nhờ có dịch vụ thông tin tín dụng của các tổ chức cung cấp dịch vụ thông tin tín dụng. Phân loại TTTTTD: Có nhiều cách phân loại TTTTTD, đề tài chọn cách phân loại theo IFC, trong đó, TTTTTD có thể được tạm chia thành ba nhóm tương đối đồng nhất, nhưng không phải là loại trừ nhau: văn phòng thông tin tín dụng (credit bureaus), cơ quan đăng ký tín dụng (credit registries) và công ty thông tin tín dụng thương mại (commercial credit reporting companies).
Nội dung cơ sở dữ liệu, khách hàng, các sản phẩm và dịch vụ liên quan do 3 nhóm nhà cung cấp dịch vụ thông tin tín dụng có sự khác biệt giữa các quốc gia. Hình 2 cho thấy các thị trường khác nhau được phục vụ bởi các TTTTTD và mức độ chồng lấn giữa chúng.Có sự khác biệt rõ rệt giữa ba loại hình TTTTTD về những điểm mạnh và điểm yếu, các mô hình hoạt động, và thị trường mà họ phục vụ.Tất cả ba loại hình TTTTTD có thể cùng tồn tại trong một thị trường nhất định dựa trên cơ sở quy mô thị trường, khẩu vị thị trường, mức độ phát triển tài chính, và văn hóa tín dụng.1: Thị trường phục vụ của các TTTTTD - Văn phòng thông tin tín dụng (Credit bureaus) Văn phòng thông tin tín dụng, thường do khu vực tư nhân sở hữu và vận hành, cung cấp thông tin tín dụng của khách hàng vay cá nhân, các doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ cho các nhà cung cấp tín dụng đa dạng. Họ thu thập thông tin theo một định dạng tiêu chuẩn từ nhiều nhà cung cấp tín dụng, bao gồm các ngân hàng, các công ty thẻ tín dụng và tổ chức tài chính phi ngân hàng khác. Họ cũng thu thập và cung cấp nhiều thông tin công khai có sẵn như bản án, thông báo phá sản, và thông tin danh bạ điện thoại, và/hoặc tạo điều kiện truy cập vào cơ sở dữ liệu của bên thứ ba như các trung tâm đăng ký thế chấp.
Thông tin cũng được thu thập từ người chia sẻ dữ liệu không truyền thống như cho vay bán lẻ và dữ liệu thanh toán từ các nhà cung cấp dịch vụ khí đốt, nước, điện, cáp, điện thoại, internet, và các dịch vụ khác, điều này cho phép văn phòng thông tin tín dụng xây dựng các báo cáo tín dụng tốt hơn và toàn diện hơn. Theo số liệu điều tra của Doing Bussiness, hơn 40% văn 7 phòng thông tin tín dụng có thông tin từ các nhà cung cấp dịch vụ công, và hơn 50% có thông tin từ các tổ chức tài chính vi mô trong cơ sở dữ liệu của họ (xem hình 1). Việc mở rộng các nguồn dữ liệu là có lợi cho những người vay cá nhân không tiếp cận được ngân hàng và các doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ, bởi vì nó cho phép các văn phòng thông tin tín dụng xây dựng bộ dữ liệu về lịch sử tín dụng mà không nhất thiết đã tiếp cận tín dụng chính thức, do đó, khắc phục cái bẫy không đủ điều kiện để cấp tín dụng do không có dữ liệu về lịch sử tín dụng trước đây.2: Nguồn cung cấp thông tin của các văn phòng thông tin tín dụng (credit bureaus) Một khi dữ liệu được thu thập, nó được kiểm tra để xây dựng báo cáo tín dụng về mỗi người vay, sau đó, được bán cho người cho vay. Báo cáo tín dụng là một hồ sơ toàn diện về bên vay hoặc thông tin cá nhân của khách hang vay tiềm năng và các thông tin về tài khoản tín dụng của khách hang vay.
Phần thông tin cá nhân thường bao gồm tên của người vay, tên trước đây, số nhận dạng (chẳng hạn như an sinh xã hội, số chứng minh thư hay số nhận dạng quốc gia khác), ngày tháng năm sinh, địa chỉ, thông tin tuyển dụng, cảnh báo (như trộm cắp ID hoặc tình trạng đóng 8 băng thẻ an sinh xã hội), và ngày cập nhật thông tin. Phần tóm tắt tín dụng (credit summary section) thường có chứa thông tin về tài khoản tín dụng của tất cả các khách hàng vay (cả mở và đóng), đánh giá liệu các tài khoản đó ở vị thế tốt (Số tiền vay nợ trong quá khứ và lịch sử hành vi trả nợ), và những thông tin điều tra về người vay trong thời gian qua. Báo cáo cũng bao gồm lịch sử trả nợ, ghi nhận thanh toán trong khoảng thời gian 12 đến 24 tháng. Báo cáo thường được cung cấp cho người cho vay dưới dạng điện tử và những chủ nợ lớn nhất hiện nay có các báo cáo tín dụng tích hợp trực tiếp vào hệ thống xử lý cho vay của họ và phần mềm gốc.
Để được cung cấp các báo cáo tín dụng, những người cho vay sẽ thanh toán cho văn phòng thông tin tín dụng dưới hình thức một khoản lệ phí đăng ký, lệ phí cho mỗi truy vấn có giảm giá tùy theo số lượng, hoặc kết hợp cả hai.