MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Công nghiệp luyện kim - cán thép có vai trò hết sức quan trọng trong công cuộc xây dựng phát triển nền kinh tế quốc dân, góp phần rất lớn vào việc ổn định phát triển của xã hội, an ninh, quốc phòng. Cùng với sự phát triển kinh tế của đất nƣớc, hiện nay nƣớc ta đã và đang xây dựng nhiều nhà máy cán thép với dây truyền công nghệ hiện đại để phục vụ cho nhu cầu xây dựng, phát triển của xã hội và quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nƣớc. Có rất nhiều nhà máy cán thép đã và đang đƣợc xây dựng nhƣ Khu công nghiệp gang thép Thái Nguyên, Nhà máy cán thép Thăng Long, Nhà máy cán thép Thái Hƣng, Nhà máy cán thép Việt - Ý.
Trong dây chuyền cán thép, trƣớc khi đƣa phôi ra cán, phôi phải đƣợc nung trong lò nung. Quá trình nung phôi có ý nghĩa rất quan trọng đối với công nghệ cán thép. Nó quyết định phần lớn chất lƣợng của thép và nếu có chế độ nung hợp lý sẽ tiết kiệm đƣợc nhiên liệu và tăng năng suất sản xuất. Tuy nhiên hệ thống điều khiển trong các lò nung phôi cho dây truyền cán hiện nay vẫn sử dụng các bộ điều khiển kinh điển nên mức độ tự động hoá chƣa cao và vẫn chịu nhiều tác động từ các yếu tố bên ngoài.
Xuất phát từ thực tiễn đó, việc nghiên cứu nâng cao chất lƣợng điều khiển hệ thống lò nung, điều khiển nhiệt độ lò nung trong dây truyền cán thép sẽ tiết kiệm đƣợc nhiên liệu, nâng cao chất lƣợng điều khiển từ đó góp phần nâng cao hiệu suất sản xuất và năng suất thúc đẩy phát triển kinh tế. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 2. Ý nghĩa khoa học Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ góp phần củng cố bổ sung cho cơ sở lý thuyết về điều khiển nhiệt độ cho lò nung phôi trong các nhà máy cán thép. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN 10 http://www.vn Luận văn thạc sỹ 2.
Ý nghĩa thực tiễn Kết quả nghiên cứu của đề tài là cơ sở để nâng cao chất lƣợng điều khiển hệ thống lò nung, điều khiển nhiệt độ trong lò nung phôi, góp phần nâng cao năng suất và chất lƣợng sản phẩm thép đầu ra. Phƣơng pháp nghiên cứu Nghiên cứu lý thuyết và tài liệu từ thực tế thiết bị (lò nung phôi trong Nhà máy cán thép Lƣu Xá) để đƣa ra hƣớng điều khiển mới, nâng cao chất lƣợng điều khiển hệ thống lò nung. Mô phỏng kiểm nghiệm kết quả nghiên cứu. Nội dung nghiên cứu - Tổng quan về công nghệ cán thép.
- Giới thiệu, phân tích công nghệ điều khiển hệ thống lò nung, điều khiển nhiệt độ trong lò nung phôi của dây truyền cán thép, Nhà máy cán thép Lƣu Xá. - Thiết kế hệ điều khiển nhiệt độ nâng cao chất lƣợng điều khiển nhiệt độ trong lò nung phôi. - So sánh kết quả thu đƣợc với các phƣơng pháp đang đƣợc ứng dụng để rút ra kết luận và ý kiến đề xuất. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN 11 http://www.vn Luận văn thạc sỹ CHƢƠNG I TỔNG QUAN CHUNG VỀ CÔNG NGHỆ CÁN THÉP 1.
KHÁI NIỆM CHUNG Kim loại đƣợc gia công bằng áp lực rất phổ biến (cán, ép, dập, đột, cắt, kéo. Dƣới tác dụng của ngoại lực, kim loại sẽ biến dạng hoặc đứt gãy. Sự thay đổi kích thƣớc và hình dạng ban đầu của vật thể kim loại khi bị ngoại lực tác dụng gọi là sự biến dạng kim loại. * Sự biến dạng của kim loại gồm : biến dạng đàn hồi và biến dạng dẻo - Biến dạng đàn hồi là biến dạng sau khi thôi tác dụng của ngoại lực kim loại trở về hình dạng và kích thƣớc ban đầu, vật chỉ biến dạng khi nó đang chịu tác dụng của ngoại lực.
- Biến dạng dẻo là biến dạng sau khi thôi tác dụng của ngoại lực kim loại có hình dạng và kích thƣớc khác ban đầu. - Biến dạng đàn hồi luôn xảy ra trƣớc mọi biến dạng dẻo. Biến dạng dẻo của kim loại phụ thuộc thành phần cấu tạo kim loại, nhiệt độ và phƣơng pháp gia công bằng áp lực. * Cán là một hình thức gia công bằng áp lực để làm thay đổi hình dạng và kích thƣớc của vật thể kim loại dựa vào biến dạng dẻo của nó.
- Yêu cầu quan trọng trong quá trình cán là ứng suất nội biến dạng dẻo không đƣợc lớn, đồng thời kim loại vẫn giữ đƣợc độ bền cao. - Căn cứ theo nhiệt độ trong quá trình tái kết tinh để phân chia cán nguội và cán nóng. * Cán thép ở nhiệt độ dƣới 4000C 4500C là cán nguội. * Cán thép ở nhiệt độ lớn hơn 6000C 6500C là cán nóng.
Trƣờng hợp do yêu cầu công nghệ, chẳng hạn cán thép tấm mỏng dƣới 1mm thì phải cán nguội vì cán nóng sẽ sinh vảy thép khá dày so với thành phẩm. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN 12 http://www.vn Luận văn thạc sỹ 1. GIỚI THIỆU CHUNG VỀ MÁY CÁN Máy cán thực hiện nguyên công chính là làm biến dạng dẻo kim loại để có hình dạng và kích thƣớc mong muốn. Kim loại đƣợc nén ép và kẹp kéo qua giữa hai trục cán quay ngƣợc chiều nhau.
Cấu tạo Một máy cán thƣờng có các bộ phận chính sau : 3 7 4 5 6 2 8 9 1 Hình 1.1 : Các bộ phận chính của máy cán Trong đó : 1 - Đế máy 2 - Thân máy 3 - Thiết bị kẹp trục 4 - Trục cán 5 - Khớp cầu 6 - Trục chính 7 - Hộp bánh răng 8 - Khớp nối 9 - Động cơ điện * Giá cán : Gồm hai trục cán (4) hay nhiều trục cán, mà gối trục đặt trên thân máy (2). Trục cán có thể dịch chuyển theo phƣơng thẳng đứng và đƣợc định vị bởi thiết bị kẹp trục (3), còn trục dƣới thƣờng đặt cố định. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN 13 http://www.vn Luận văn thạc sỹ * Cơ cấu và thiết bị truyền động : Có thể khác nhau tuỳ theo nhiệm vụ và cấu tạo máy cán. Ở các máy cán lớn (cán thô, cán thép lá dày) cũng nhƣ ở các máy cán tốc độ lớn thì các trục cán đƣợc truyền động riêng rẽ từ hai động cơ điện riêng (mỗi động cơ kéo một trục cán), còn các máy cán khác thông dụng hơn thì truyền động các trục cán do một động cơ điện đảm nhận thông qua khớp nối (8), hộp bánh răng (7), trục chính (6) dùng để dẫn động từ động cơ điện tới các trục cán.
Do trục cán trên có thể dịch chuyển lên xuống để thay đổi độ dày cán nên khoảng cách giữa hai trục chính cũng thay đổi đƣợc. Do vậy hai đầu của các trục chính đều có khớp nối cầu và có thể thụt ra vào đƣợc. Ngoài ra ở các máy cán đòi hỏi tốc độ ổn định thì giữa động cơ điện (9) và hộ bánh răng (7) còn có bánh đà. * Động cơ điện : Thƣờng dùng động cơ chuyên dùng có thổi gió làm mát.
Ở máy cán có tốc độ cán không đổi (máy cán thô liên tục) thƣờng dùng động cơ đồng bộ (đôi khi dùng động cơ không đồng bộ với bánh đà). Ở máy cán có điều chỉnh tốc độ cán, dùng động cơ một chiều, nguồn một chiều đƣợc cấp từ bộ chỉnh lƣu. Phân loại máy cán * Phân loại theo tên gọi : - Máy cán thô, đƣờng kính trục cán = 800 ÷ 1300 (mm) - Máy cán phôi dẹt, đƣờng kính trục cán = 1100 1150 (mm) - Máy cán phôi, đƣờng kính trục cán = 450 750 (mm) - Máy cán ray, đƣờng kính trục cán = 750 900 (mm) - Máy cán phân loại thô, đƣờng kính trục cán = 500 750 (mm) - Máy cán dây, đƣờng kính trục cán = 250 350 (mm) * Phân loại theo số trục cán và cách bố trí chúng : Theo cách phân loại này, có máy cán 2 trục, 3 trục hoặc nhiều trục cán hơn (4, 6, 12, 20 trục) (hình 1. Các trục cán có thể đặt đứng, nằm ngang hoặc nghiêng.
Loại máy cán có trục nằm ngang phổ biến và thông dụng nhất. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN 14 http://www.vn Luận văn thạc sỹ Hộp cán có hai trục cán nằm ngang (hình 1.2a) đƣợc dùng trong máy cán quay thuận ngịch để cán thô, cán tấm dày, cán phân loại. Hộp cán có 3 trục cán nằm ngang (hình 1.2b) đƣợc dùng trong máy cán tấm dày, tấm trung bình. Trong máy cán này, phôi cán chuyển động theo hai chiều còn trục cán không đổi chiều quay.
Hộp cán có 4 trục cán (hình 1.2c) đƣợc dùng trong cán tấm (nóng và nguội). Hai trục lớn phía ngoài là hai trục tựa để giảm sự biến dạng của hai trục làm việc nhỏ phía trong. Hộp cán có nhiều trục cán hơn (6, 12, 20 trục) (hình 1.2 d, e, f) cũng chỉ có hai trục làm việc còn các trục khác là trục tựa. Thƣờng dùng trong cán nguội các tấm mỏng.2 a, b, c, d, e, f : Các kiểu máy cán theo số trục Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN 15 http://www.vn Luận văn thạc sỹ Một hộp cán có thể đƣợc dẫn động từ 1 hay 2 động cơ hoặc 1 động cơ có thể dẫn động đƣợc nhiều hộp cán (hình 1.
Phƣơng thức sau hay dùng cho máy cán phân loại. Nó có khuyết điểm là phôi cán phải di chuyển ngang từ hộp này sang hộp cán khác và do tốc độ các hộp cán nhƣ nhau nên không có khả năng tăng tốc khi phôi cán dài hơn. Phƣơng thức đặt các hộp cán nối tiếp nhau (hình 1. Phôi đƣợc cán vài lần ở hộp cán trƣớc rồi mới chuyển sang hộp cán sau.
Phƣơng thức này thƣờng dùng để cán thô, cán tấm dày. Phƣơng thức đặt các hộp cán nối tiếp nhau liên tục. Phôi cán từ hộp này sang thẳng hộp kia, khoảng cách giữa hai hộp cán nhỏ hơn chiều dài phôi. Máy cán loại này cho năng suất cao nhƣng đòi hỏi sự đồng đều giữa các hộp cán để tránh phế phẩm do phôi cán bị võng quá hoặc căng quá giữa hai hộp cán.
Loại này dùng để cán nóng phôi. §éng c¬ hép tèc gi¸ c¸n hép c¸n a) b) c) Hình 1.3 a, b, c : Phương thức đặt hộp cán * Phân loại theo chế độ làm việc : - Máy cán quay thuận nghịch có điều chỉnh. - Máy cán không quay thuận nghịch có điều chỉnh. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN 16 http://www.vn Luận văn thạc sỹ - Máy cán không quay thuận nghịch không có điều chỉnh.
* Các tham số cho máy cán : - Đƣờng kính trục cán (đối với máy cán phôi).