CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIAO DỊCH VIÊN TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Cơ sở lý luận về nâng cao chất lượng giao dịch viên tại ngân hàng thương mại 1. Khái niệm, vai trò của giao dịch viên tại các ngân hàng thương mại 1. Khái niệm giao dịch viên Giao dịch viên là những người phụ trách trực tiếp việc giao dịch với khách hàng tại các đơn vị kinh doanh trong đó có ngân hàng thương mại.
Theo Quyết định số 1498/2005/QĐ-NHNN của Ngân hàng Nhà nước về Ban hành quy chế giao dịch một cửa áp dụng cho các tổ chức tín dụng thì giao dịch viên được khái niệm như sau: “Giao dịch viên: là cán bộ, nhân viên của tổ chức tín dụng trực tiếp giao dịch với khách hàng, chịu trách nhiệm tiếp nhận để giải quyết các nhu cầu của khách hàng theo thẩm quyền trong việc lập, kiểm soát và phê duyệt chứng từ giao dịch”. Giao dịch viên ngân hàng (hay còn gọi là Teller) là nhân viên ngân hàng thường trực làm việc tại quầy giao dịch vủa các ngân hàng, phục vụ các nhu cầu giao dịch cơ bản của khách hàng như: nộp tiền, rút tiền, ủy nhiệm chi, thu hộ, chi hộ, mở tài khoản, xử lý thông tin tài khoản, hạch toán giao dịch…cho khách hàng cá nhân và khách hàng doanh nghiệp. Giao dịch viên làm việc ở vị trí “mặt tiền” của ngân hàng, là người sẽ trực tiếp tiếp xúc, xử lý các nhu cầu khách hàng. Đây là vị trí phản ánh chất lượng dịch vụ, hình ảnh và thương hiệu của ngân hàng, đòi hỏi yêu cầu cao về ngoại hình, nghiệp vụ, đồng thời có được kỹ năng giao tiếp khéo léo… 1.
Chức năng, nhiệm vụ của giao dịch viên tại NHTM - Giao dịch viên được cấp mã khóa bảo mật để thực hiện nhiệm vụ theo thẩm quyền của mình trong việc lập, kiểm soát, phê duyệt (ký) chứng từ. - Giao dịch viên có nhiệm vụ tư vấn, tiếp thị và bán sản phẩm dịch vụ của ngân hàng. Tiếp nhận và giải đáp thắc mắc của khách hàng liên quan tới các sản phẩm dịch vụ. - Giao dịch viên có chức năng kiểm đếm, thu chi và quản lý tiền mặt.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn 6 - Giao dịch viên có nhiệm vụ thực hiện các giao dịch kế toán, thanh toán, thẻ với khách hàng. Hướng dẫn, giải đáp, tiếp nhận xử lý yêu cầu của khác hàng liên quan đến giao dịch kế toán, thanh toán, thẻ, tiền gửi, tiền vay và các dịch vụ ngân hàng khác theo quy định của NHTM. - Giao dịch viên có quyền xử lý và chịu trách nhiệm hoàn toàn khi có tổn thất xảy ra đối với các giao dịch trong hạn mức giao dịch mà mình phụ trách. Các giao dịch vượt hạn mức phải được kiểm soát viên phê duyệt theo quy định trước khi thực hiện.
Chất lượng giao dịch viên tại NHTM 1. Khái niệm về chất lượng nhân lực và chất lượng giao dịch viên Khái niệm chất lượng nhân lực Theo PGS.TS Mai Quốc Chánh và TS. Trần Xuân Cầu (2003): “Trong điều kiện kinh tế thị trường cạnh tranh cao và hội nhập sâu rộng thì chất lượng nhân lực được coi là chỉ tiêu quan trọng phản ánh trình độ phát triển kinh tế và đời sống của con người trong một xã hội nhất định”. Theo hai tác giả Phạm Thành Nghị, Vũ Hoàng Ngân (2004): “Chất lượng nhân lực là khái niệm tổng hợp bao gồm nhiều nét đặc trưng như: thể lực, trí lực, kỹ năng, phong cách đạo đức, lối sống và tinh thần của người lao động”.TS Nguyễn Ngọc Quân (2014) thì: “Chất lượng nhân lực là mức độ đáp ứng về khả năng làm việc của nhân lực với yêu cầu công việc của tổ chức và đảm bảo cho tổ chức thực hiện thắng lợi mục tiêu cũng như thỏa mãn cao nhất nhu cầu của người lao động”.
Hay chất lượng nhân lực có thể được hiểu là trạng thái nhất định của nhân lực thể hiện mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành bên trong của nhân lực.TS Bùi Văn Nhơn (2012) cho rằng: “Chất lượng nhân lực gồm trí tuệ, thể chất và phẩm chất tâm lý xã hội”. Trong đó: Thể lực của nhân lực gồm sức khỏe cơ thể và sức khỏe tinh thần; Trí lực của nhân lực gồm trình độ văn hóa, chuyên môn kỹ thuật và kỹ năng lao động thực hành của người lao động; Phẩm chất tâm lý xã hội gồm kỷ luật, tự giác, có tinh thần hợp tác và tác phong công nghiệp, có tinh thần trách nhiệm cao. Như vậy, qua các khái niệm trên có thể rút ra: Chất lượng nhân lực là mức độ đáp ứng về khả năng làm việc của người lao động (thể lực, trí lực, tinh thần) so với yêu Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn 7 cầu công việc cụ thể đặc trưng của doanh nghiệp. Khái niệm chất lượng giao dịch viên trong ngân hàng thương mại Đối với các NHTM thì một trong những nhân tố quan trọng cấu thành nên nguồn nhân lực đó là đội ngũ giao dịch viên.
Mang theo đặc thù lao động nhất định về công việc đó là làm việc trong môi trường tiền tệ đồng thời thường xuyên phải giao tiếp với khách hàng, làm việc với cường độ cao nên chất lượng giao dịch viên tại ngân hàng cũng mang theo những yêu cầu khác biệt so với những ngành nghề khác. Chất lượng của giao dịch viên cũng có thể đánh giá được phần nào chất lượng nguồn nhân lực trong các NHTM.Từ khái niệm chất lượng nhân lực và các đặc điểm của giao dịch viên, tác giả tiếp cận khái niệm về chất lượng giao dịch viên như sau: Chất lượng giao dịch viên là mức độ đáp ứng về khả năng làm việc của giao dịch viên (thể lực, trí lực, tinh thần) so với yêu cầu công việc cụ thể đặc trưng của ngân hàng thương mại. Tại mỗi NHTM thì sẽ có những quy định cụ thể khác nhau về điều kiện của giao dịch viên như ngoại hình, trình độ, kỹ năng giao tiếp với khách hàng… Tất cả những quy định này được coi như là khung đánh giá năng lực của chính GDV tại NHTM đó. Vai trò của chất lượng giao dịch viên tại các NHTM - Với những giao dịch viên chất lượng cao sẽ giúp cho NHTM tiếp cận nhanh với những tri thức, công nghệ mới.
Ứng dụng nhanh và hiệu quả những tri thức mới vào trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng. - Nâng cao năng suất lao động nhờ kỹ năng, kiến thức và kinh nghiệm của những giao dịch viên chất lượng cao: với khả năng của mình, GDV có thể thực hiện những công việc được giao một cách hiệu quả nhất, sáng tạo, tìm tòi ra cách làm mới… - Nâng cao chất lượng giao dịch viên của cả tổ chức thông qua công việc, kèm cặp chỉ bảo trong công việc của GDV chất lượng cao đối với GDV của ngân hàng, góp phần nâng cao chất lượng của đội ngũ giao dịch viên trong ngân hàng. Với những vai trò cơ bản trên, GDV chất lượng cao được ví như đôi cánh nâng NHTM bay cao, bay xa trên con đường phát triển. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.
Nội dung phản ánh chất lượng giao dịch viên ở các NHTM a. Trình độ chuyên môn, kiến thức và kỹ năng của giao dịch viên Trình độ chuyên môn, kiến thức và kỹ năng nghề nghiệp của giao dịch viên là yêu cầu cần thiết để đảm trách công việc về hoạt động nghề nghiệp. * Trình độ chuyên môn: là sự hiểu biết, khả năng thực hành về chuyên môn nào đó mà giao dịch viên được đào tạo ở các cơ sở giáo dục nghề nghiệp; trường trung học chuyên nghiệp, cao đẳng; khả năng về chỉ đạo, quản lý công việc thuộc chuyên môn nhất định. Trình độ chuyên môn thường dùng để chỉ năng lực của người được đào tạo, được trang bị kiến thức, kỹ năng thực hành để thực hiện công việc nhất định.
Trình độ chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp của giao dịch viên phản ánh kiến thức và kỹ năng của lao động, phản ánh chất lượng giao dịch viên được hình thành thông qua hệ thống giáo dục và đào tạo. Trình độ chuyên môn có thể được định lượng bằng tỷ lệ giao dịch viên đã qua đào tạo và chưa qua đào tạo về chuyên môn. Đây là chỉ số phản ánh tập trung cao về chất lượng giao dịch viên. Cụ thể hơn, trình độ chuyên môn được đánh giá qua các thang đo: “chưa qua đào tạo”, “trình độ sơ cấp”, “trình độ trung cấp”, “trình độ cao đẳng, đại học”, “sau đại học”.
Trình độ chuyên môn của giao dịch viên bao gồm tất cả các khía cạnh của hiệu suất công việc cụ thể như: + Thực hiện tốt và hiệu quả các nhiệm vụ cá nhân được giao + Quản lý nhiều nhiệm vụ khác nhau trong một công việc chuyên ngành + Xử lý các tình huống hoặc sự cố bất ngờ *Kiến thức của giao dịch viên Một GDV của NHTM cần trang bị đầy đủ những kiến thức cần có đó là: - Biết về vai trò và hoạt động của 1 ngân hàng thương mại hiện đại - Hiểu về các sản phẩm huy động, thanh toán và giao dịch của NH mình & NHTM nói chung - Hiểu về luật chống rửa tiền, phân biệt tiền thật tiền giả (Cần thiết) - Hiểu và nắm rõ các quy định của NHNN trong lĩnh vực kinh doanh của NH mình. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn 9 - Nắm bắt nền tảng cơ bản về tài chính, Kế toán Ngân hàng, Kho quỹ - Kiến thức chung về khách hàng, thị trường và ngân hàng cạnh tranh - Kiến thức về Ngân hàng: sản phẩm dịch vụ ngân hàng, sản phẩm bán chéo, Văn bản nghiệp vụ, Chi phí liên quan… Kỹ năng của giao dịch viên Các kỹ năng cần thiết của giao dịch viên bao gồm 3 loại kỹ năng: kỹ năng nhận thức (tư duy logic, trực giác và tư duy phê phán…), kỹ năng xã hội và hành vi (kỹ năng mềm, đặc điểm tính cách…), kỹ năng kỹ thuật (kỹ năng liên quan trực tiếp đến công việc). Các kỹ năng kỹ thuật và kỹ năng công việc cụ thể thường được học hỏi cuối cùng ở bậc đào tạo kỹ thuật và dạy nghề, giáo dục đại học và vừa học vừa làm trên công việc thực tế. Các kỹ năng mà một GDV của NHTM cần có bao gồm: Có kỹ năng giao tiếp trực tiếp và qua điện thoại.
Kỹ năng chăm sóc khách hàng và xử lý khiếu nại của khách hàng. Kỹ năng bán hàng và bán chéo. Kỹ năng làm việc theo nhóm (teamwork).