CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHẤT LƯỢNG CÔNG TÁC GIÁM SÁT TỪ XA ĐỐI VỚI QUỸ TÍN DỤNG NHÂN DÂN CỦA TỔ CHỨC BHTG 1.1 Khái quát về công tác giám sát từ xa đối với Quỹ tín dụng nhân dân của Tổ chức Bảo hiểm tiền gửi 1.1 Tổng quan về Quỹ tín dụng nhân dân Khái niệm về QTDND Dựa theo Thông tư 04/2015 và Luật các tổ chức tín dụng 2010 khoản 6 Điều 4 thì có thể đưa ra khái niệm về QTDND như sau : Quỹ tín dụng nhân dân là tổ chức tín dụng do các pháp nhân, cá nhân và hộ gia đình tự nguyện thành lập dưới hình hợp tác xã để thực hiện một số hoạt động ngân hàng theo quy định của Luật này và Luật hợp tác xã nhằm mục tiêu chủ yếu là tương trợ nhau phát triển trong hoạt động sản xuất, kinh doanh và đời sống. Các QTDND có phạm vi hoạt động nhỏ trong phạm vi liên phường, liên xã nên dễ bị ảnh hưởng bởi các nhân tố tác động bên ngoài như thay đổi về chính sách, điều kiện khách quan. Khánh hàng của QTDND thường là sống ở các vùng nông thôn, xa xôi, găp nhiều khó khăn trong việc đi lại, hạn chế về điều kiện sinh hoạt. Khách hàng có khả năng tài chính yếu kém, sản suất kinh doanh còn theo tập quán, phong trào, năng lực sản xuất nhỏ bé và trình độ nhận thức có nhiều hạn chế nên chưa đat hiệu quả cao trong việc tổ chức sản xuất kinh doanh cũng như vận dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật vào sản xuất.
Kết quả sử dụng vốn vay và tiết kiệm của khách hàng phần nào bị ảnh hưởng bởi những điều trên, đưa đến rủi ro cho các QTDND. QTDND có hoạt động đơn thuần chỉ là hoạt động cho vay với công nghệ lạc hậu, trình độ quản lý thấp, có hạn chế trong việc phát hiện và ngăn ngừa xử lý rủi ro. Bên cạnh đó, những lỗ hổng trong việc kiểm soát rủi ro tại các QTDND ngày càng gia tăng do quy trình quản lý thiếu hiệu quả tại một số QTDND đã ảnh hưởng lớn đến tình hình hoạt động của bản thân mỗi QTDND. Vai trò của QTDND: QTDND là loại hình tài chính trung gian, hoạt động như một Ngân hàng thu nhỏ.
Hoạt động dịch vụ QTDND chủ yếu ở nông thôn với mục tiêu hoạt động của QTDND là nhằm huy động nguồn vốn tại chỗ để cho vay tại chỗ, tương trợ cộng đồng, vì sự phát triển bền vững của các thành viên là chủ yếu. Qua quá trình hoạt động, hình thức QTDND này đã và đang đóng vai trò đáng kể trong việc phát triển bền vững kinh tế nông thôn như : Tạo ra sự thịnh vượng cho cộng đồng địa phương: Từ khi hoạt động theo hình thức tương trợ, các hợp tác xã tài chính bén rễ mạnh mẽ trong cộng đồng của Luan van 7 mình và là đòn bẩy có ý nghĩa cho việc phát triển tài sản tập thể và kinh tế xã hội địa phương. Do vậy, vai trò của các hợp tác xã là tạo ra các dịch vụ tài chính có sẵn, cho phép tạo ra thặng dư trong hộ gia đình và doanh nghiệp bằng việc xây dựng ý thức trách nhiệm của những người dân là những người sẽ tái đầu tư những thặng dư này vào các lĩnh vực sản xuất kinh doanh hoặc tiêu dùng theo các nhu cầu ưu tiên của họ. Trên thực tế, việc tiếp cận tín dụng là một phương tiện hiệu quả cho phép những cộng đồng dân cư trong đó đặc biệt là người nghèo huy động được tiềm năng tập thể của họ.
Các hoạt động tập thể này tạo ra sự thịnh vượng (việc làm và các dịch vụ) cho cộng đồng, trong nhiều trường hợp, là nguồn tạo thu nhập để cho phép đáp ứng các nhu cầu cơ bản, như lương thực, y tế và giáo dục cho các cộng đồng dân cư nói trên. Những đối tượng như người nghèo, người bị thiệt thòi, đặc biệt là phụ nữ được xác định như là nhóm chiến lược trong việc phát triển mô hình QTDND; việc phát triển nhóm này nên được thúc đẩy như một phần của chiến lược xóa đói giảm nghèo. Do vậy, các QTDND chính là loại hình tổ chức tín dụng (TCTD) có vai trò tích cực trong việc huy động nguồn lực tài chính của địa phương đồng thời có vị thế tốt nhất để đáp ứng cơ sở hiện tại và tương lai về các nhu cầu đa dạng (tiết kiệm, tín dụng, bảo hiểm, ….) của các nhóm khách hàng nói trên. Quan trọng hơn, quỹ góp phần đẩy lùi các mô hình rủi ro hơn như chơi hụi, tín dụng đen.
Cung cấp tài chính cho các doanh nghiệp vi mô và kinh doanh nhỏ : Như chúng ta đã biết, khả năng tiết kiệm của người nghèo, người bị thiệt thòi, đặc biệt là phụ nữ, trong một thời gian dài bị mọi người, kể cả các chuyên gia về phát triển, đánh giá thấp. Trên thực tế, mặc dù dòng vốn do những nhóm khách hàng này tạo ra có thể là nhỏ nhưng nếu chúng được gửi vào một tổ chức an toàn thì những khoản tiết kiệm này vừa có tác dụng điều hòa dòng tiền, vừa góp phần tạo cảm giác an toàn. Việc quay vòng an toàn khoản tiền này (cho vay thành viên) vào các hoạt động của cộng đồng là một đóng góp có ý nghĩa cho sự phát triển môi trường và hạnh phúc của người dân nói chung và các đối tượng trên đây nói riêng. Như vậy, việc thành lập và kinh doanh QTDND là rất cần thiết.
Nó đáp ứng được yêu cầu cung cấp các dịch vụ tài chính ngân hàng một cách thuận tiện, thường xuyên và ổn định, lâu dài với mức giá cả có thể chấp nhận được. Đồng thời góp phần phát triển kinh tế - xã hội, tạo công ăn việc làm, xóa đói giảm nghèo, hạn chế cho vay nặng lãi trên địa bàn hoạt động. Hiện nay, các QTDND mới chỉ dừng lại với quy mô nhỏ.Tổng nguồn vốn huy động cho vay từ một vài tỷ đồng đến vài chục tỷ đồng, chỉ có một vài quỹ lên đến trăm tỷ đồng, nợ xấu thường rất thấp (dưới 1%). Đây là ưu điểm rất lớn so với mô hình ngân hàng thương mại.
Nhưng mô hình sở hữu tập thể này cũng có vấn đề riêng của nó. Những thành viên không thể giám sát thường xuyên hay quá tin vào giám đốc quỹ, khiến sự lạm dụng quyền lực như quỹ Hoằng Hóa, Thanh Hóa có thể Luan van 8 xảy ra. Việc lãnh đạo một số quỹ cố tình chiếm đoạt tài sản chung, cho vay sai nguyên tắc, lập chứng từ khống, hoặc không chịu trả tiền gửi cho người dân khiến quỹ bị thua lỗ không phải mới xảy ra lần đầu. Mà những người gửi tiền tại những Quỹ này đều là những người dân nghèo, những hộ dân nhỏ lẻ, có mức thu nhập thấp.
Đối với họ những khoản tiền gửi này là vốn lũy cả đời, là các khoản tiết kiệm, là tiết của.Vì vậy khi xảy ra những việc như vậy, họ sẽ bị mất tiền bạc, sẽ bị mất lòng tin vào hệ thống ngân hàng. Do vậy cần phải có một tổ chức để bảo vệ người dân, mang lại niềm tin và bảo hiểm cho các QTDND.2 Tổng quan về Tổ chức Bảo hiểm tiền gửi Theo quy định của Luật Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam (2012), ta có một số định nghĩa sau : “ Bảo hiểm tiền gửi là sự bảo đảm hoàn trả tiền gửi cho người được bảo hiểm tiền gửi trong hạn mức trả tiền bảo hiểm khi tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi lâm vào tình trạng mất khả năng chi trả tiền gửi cho người gửi tiền hoặc phá sản.” “ Tổ chức Bảo hiểm tiền gửi: là đối tác nhận đóng góp tài chính từ tổ chức tham gia BHTG và có trách nhiệm thực hiện chi trả tiền bảo hiểm tới người có tiền gửi thuộc đối tượng được bảo hiểm tại tổ chức tham gia BHTG khi tổ chức đó chấm dứt hoạt động và mất khả năng thanh toán.” “ Tổ chức tham gia BHTG là các ngân hàng và chi nhánh ngân hàng nước ngoài, tổ chức tài chính vi mô, Quỹ tín dụng nhân dân. Các tổ chức này khi được tham gia BHTG có trách nhiệm đóng góp tài chính cho tổ chức BHTG và được quyền yêu cầu tổ chức BHTG chi trả tiền bảo hiểm cho người gửi tiền tại tổ chức đó trong trường hợp tổ chức này mất khả năng thanh toán và bị cơ quan có thẩm quyền chấm dứt hoạt động.” “ Người gửi tiền thuộc đối tượng được bảo hiểm là khách hàng có tiền gửi thuộc đối tượng được bảo hiểm tại tổ chức tham gia BHTG. Người gửi tiền không phải đóng góp tài chính cho tổ chức BHTG nhưng có quyền yêu cầu tổ chức BHTG thanh toán tiền gửi kể cả tiền lãi tích lũy trên tiền gửi đó trong hạn mức chi trảt iền gửi được bảo hiểm của tổ chức BHTG có thể là toàn bộ hoặc một phần tiền gửi do chính sách của mỗi quốc gia.” Tổ chức BHTG được thành lập với mục tiêu bảo vệ người gửi tiền, góp phần duy trì sự ổn định của hệ thống các QTDND và bảo đảm sự phát triển an toàn, lành mạnh của hoạt động tài chính - ngân hàng.
Điều này được thể hiện rõ qua vai trò cơ bản của tổ chức BHTG như sau: Một là Bảo vệ người gửi tiền nhỏ, có ít hoặc hạn chế về mặt thông tin đối với hoạt động của các tổ chức nhận tiền gửi; Hai là Góp phần đảm bảo hệ thống tài chính – ngân hàng hoạt động lành mạnh, ổn định và ngăn chặn đổ vỡ ngân hàng thông qua các hoạt động nghiệp vụ; Luan van 9 Ba là Góp phần xây dựng thị trường tài chính lành mạnh, có tính cạnh tranh bình đẳng giữa các tổ chức tài chính với quy mô và loại hình khác nhau; Bốn là Giảm thiểu gánh nặng cho Chính phủ trong trường hợp xử lý đổ vỡ của QTDND giảm gánh nặng cho người dân đóng thuế trong trường hợp ngân hàng phá sản. Theo đó, Nhà nước sẽ không phải sử dụng ngân sách Nhà nước để xử lý đổ vỡ của các QTDND. Như vậy, có thể thấy BHTG là tổ chức có vai trò quan trọng trong việc tạo dựng và giữ vững niềm tin của nhân dân đối với hệ thống tài chính - ngân hàng. Tổ chức BHTG đã thay mặt Chính phủ bảo vệ tiền gửi của dân và giữ vững niềm tin cho người gửi tiền.
Trong trường hợp QTDND bị đổ vỡ, TCBHTG sẽ chi trả toàn bộ hoặc một phần tiền gửi cho người gửi tiền. QTDND là một trung gian tài chính, tín dụng là cầu nối giữa người có vốn và người cần vốn.