Chương 1: Cơ sở lý luận về nâng cao chất lượng đội ngũ biên tập viên Chương 2: Thực trạng chất lượng biên tập viên Đài tiếng nói Việt Nam Chương 3: Phương hướng và các giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ biên tập viên Đài tiếng nói Việt Nam 7 Luan van Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NÂNG CAO CHẤT LƢỢNG ĐỘI NGŨ BIÊN TẬP VIÊN CẤP TRUNG ƢƠNG 1. Một số vấn đề chung 1. Khái niệm báo chí Theo Luật Báo chí 2016, báo chí là sản phẩm thông tin về các sự kiện, vấn đề trong đời sống xã hội thể hiện bằng chữ viết, hình ảnh, âm thanh, được sáng tạo, xuất bản định kỳ và phát hành, truyền dẫn tới đông đảo công chúng thông qua các loại hình báo in, báo nói, báo hình, báo điện tử [99, tr. Khái niệm biên tập, biên tập viên, biên tập viên báo chí, chất lượng BTV, nâng cao chất lượng BTV 1.
Khái niệm biên tập “Biên tập là một hoạt động, gồm việc tổ chức khai thác, lựa chọn các tác phẩm để in, nhân bản, để phát trong các chương trình phát thanh, truyền hình (để truyền thông); đồng thời góp phần tu chỉnh, sửa chữa, nâng cao chất lượng tác phẩm; kiểm tra những sai sót khi nhân bản; góp phần vào việc phố biến tác phẩm. Với nghĩa này hoạt động biên tập là khâu công tác quan trọng của mọi hoạt động truyền thông, của công tác báo chí, thông tin, tuyên truyền” [24, tr. Biên tập báo chí: là khái niệm chỉ hoạt động biên tập các sản phẩm báo chí của các toà soạn báo, đài phát thanh, truyền hình. Điểm khác biệt rất lớn so với biên tập xuất bản là “biên tập báo chí không phải chỉ là công việc sửa chữa câu chữ, cắt gọt trên bản thảo của một số BTV.
Biên tập báo chí là một quá trình lao động sáng tạo tập thể, từ việc lập kế hoạch nội dung từng trang báo, số báo tới kế hoạch tuyên truyền các nội dung ngắn hạn và dài hạn; từ việc nghiên cứu sử dụng bản thảo, đánh giá đề tài, kiểm tra, sửa chữa cả về văn chương và tính chính xác khách quan của từng tác phẩm đơn lẻ đến tổ 8 Luan van chức thành các số báo hoàn chỉnh theo kế hoạch, vừa đảm bảo đúng quan điểm chính trị, vừa chân thực, khách quan" [30, tr. Do đó, hoạt động biên tập báo chí rộng và nhiều nội dung hơn hoạt động biên tập xuất bản. Khái niệm biên tập viên “BTV là những người làm công việc biên tập ở các nhà xuất bản và các cơ quan thông tin - báo chí. BTV phải là người am hiểu kiến thức khoa học chuyên ngành mà loại sách báo đề cập do mình phụ trách; có tri thức và kỹ năng, kỹ xảo biên tập; có phẩm chất đạo đức tốt.
Sự nhạy cảm chính trị, năng lực chuyên môn khoa học, năng lực tổ chức, khả năng thể hiện bằng văn tự là những phẩm chất nghề nghiệp cơ bản của người biên tập. Qua các góc độ tiếp cận nêu trên, có thể thấy khái niệm BTV là chỉ một chức danh được dùng trong nhà xuất bản và cơ quan báo chí. Dựa vào mục đích nghiên cứu của luận án, tác giả sử dụng khái niệm BTV là những người làm công việc biên tập ở các nhà xuất bản và các cơ quan báo chí.3 Khái niệm biên tập viên báo chí BTV báo chí là người đề ra kế hoạch truyền thông dài hạn và ngắn hạn cho cơ quan báo chí và biên tập nâng cao chất lượng, bảo đảm tính tư tưởng, nghệ thuật, khoa học của các tác phẩm, sản phẩm báo chí; xây dựng chủ đề thông tin của trang báo, số báo hay chương trình phát thanh, truyền hình, xử lý các sự kiện, vấn đề và khủng hoảng, chủ động thiết lập và duy trì các mối quan hệ với phóng viên, cộng tác viên và các đối tác của toà soạn (thông qua các đơn vị chuyên môn nghiệp vụ của toà soạn báo chí); khai thác các nguồn tư liệu, tài liệu; chỉ đạo và theo dõi các khâu trong quá trình sản xuất sản phẩm báo chí, truyền thông, trực tiếp sáng tạo tác phẩm báo chí.4 Khái niệm chất lượng biên tập viên Có nhiều cách tiếp cận khác nhau nên có nhiều cách hiểu khác nhau về chất lượng BTV. Có quan điểm cho rằng, chất lượng BTV là mức độ đáp ứng về khả năng làm việc của người biên tập với yêu cầu công việc của tổ chức và 9 Luan van đảm bảo cho tổ chức thực hiện thắng lợi mực tiêu cũng như thỏa mãn cao nhất nhu cầu của độc giả và BTV.
Chất lượng là một khái niệm khá phức tạp, tùy theo đối tượng sử dụng, khái niệm “chất lượng” có nội dung khác nhau. Khi xác định chất lượng của một loại hàng hóa hay dịch vụ, chất lượng được đo bởi sự thỏa mãn nhu cầu. Các nhu cầu này không chỉ từ phía khách hàng mà còn từ các bên có liên quan, ví dụ như các yêu cầu mang tính pháp chế, nhu cầu của cộng đồng xã hội. Vì vậy, khi đánh giá chất lượng của một đối tượng, phải xét đến mọi đặc tính của đối tượng có liên quan đến sự thỏa mãn những nhu cầu cụ thể.
Nhu cầu có thể được công bố rõ ràng dưới dạng các quy định, tiêu chuẩn nhưng cũng có những nhu cầu không thể miêu tả rõ ràng, người sử dụng chỉ có thể cảm nhận chúng hoặc có khi chỉ phát hiện được trong quá trình sử dụng. Theo Từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học định nghĩa “Chất lượng là cái làm nên phẩm chất, giá trị của một con người, một sự vật, sự việc”. Chất lượng của cá nhân được hiểu là tổng hợp những phẩm chất nhất định về sức khỏe, trí tuệ khoa học, chuyên môn nghề nghiệp, phẩm chất đạo đức, ý chí, niềm tin, năng lực; luôn gắn bó tập thể, với cộng đồng. Để xác định chất lượng của một cá nhân ngoài phẩm chất, giá trị của chính bản thân con người đó thì một yếu tố nữa đó là sự đánh giá của xã hội.
Hay nói cách khác, phẩm chất, giá trị đó có đáp ứng nhu cầu của xã hội hay không. Và rõ ràng chất lượng của một cá nhân trong từng giai đoạn phát triển của xã hội thì nhu cầu cũng có sự biến động khác nhau. Trong thời kỳ đẩy mạnh CNH-HĐH đất nước, yêu cầu về chất lượng CBCCVC càng cao hơn, đòi hỏi đội ngũ CBCCVC không những có trình độ, phẩm chất theo yêu cầu mà còn phải gương mẫu, đi tiên phong về lý luận và thực tiễn, chấp hành nghiêm chỉnh chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước; giữ vững tiêu chuẩn và tư cách của người CBCCVC. 10 Luan van Chính vì vậy, khi nói đến chất lượng của đội ngũ CBCCVC là nói đến tổng thể những phẩm chất và năng lực của người CBCCVC, những phẩm chất và năng lực này thể hiện khả năng và kết quả hoàn thành nhiệm vụ của họ, thực hiện những nhiệm vụ mà họ được cấp có thẩm quyền phân công theo luật định.
Khi nghiên cứu về chất lượng biên tập viên, có thể xét dưới hai đặc tính: Một là, phẩm chất, giá trị của biên tập viên bao gồm: kiến thức, năng lực, các kỹ năng, phẩm chất đạo đức, sức khỏe. Đó là tổng hợp các yếu tố chuyên môn được đào tạo, kinh nghiệm làm việc, năng khiếu cá nhân, yếu tố tiềm năng hoặc thiên bẩm để nâng cao khả năng làm việc. Hai là, khả năng hoàn thành tốt chức trách, nhiệm vụ được giao. Ở khía cạnh này, đó là sự đánh giá của cơ quan quản lý và đối tượng được phục vụ nơi biên tập viên công tác.
Trong phạm vi khuôn khổ luận văn, tác giả xin được sử dụng khái niệm về chất lượng BTV như sau: Chất lượng biên tập viên là tổng hợp các tiêu chí về phẩm chất chính trị, phẩm chất đạo đức, trình độ văn hóa, chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ, tác phong làm việc, lối sống, tuổi tác, tình trạng sức khỏe, khả năng thích ứng cũng như khả năng hoàn thành nhiệm vụ được giao của biên tập viên.5 Khái niệm nâng cao chất lượng biên tập viên Nâng cao chất lượng BTV chính là sự tăng cường sức mạnh và kỹ năng hoạt động sáng tạo của năng lực thể chất và năng lực tinh thần của lực lượng biên tập lên đến một trình độ nhất định để lực lượng này có thể hoàn thành được nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội trong một giai đoạn phát triển nhất định của một quốc gia, một tổ chức. Nâng cao chất BTV là tăng giá trị con người, cả giá trịvật chất và tinh thần, cả trí tuệ lẫn tâm hồn cũng như kỹ năng nghề nghiệp, làm cho con người trở thành người lao động có những năng lực và phẩm chất mới cao hơn đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của sự phát triển kinh tế xã hội. 11 Luan van Hiên nay, cuộc Cách mạng công nghiệp 4. Ngoài kiến thức chuyên sâu, đòi hỏi đội ngũ cán bộ xuất bản phải có tính năng động, sáng tạo, có năng lực ngoại ngữ, tin học và thậm chí cả những kiến thức khoa học-công nghệ cần thiết, để có thể tiếp cận và ứng dụng những công nghệ mới trong hoạt động quản lý và chuyên môn, tương ứng với phương thức xuất bản mới, sử dụng kênh truyền thông đa phương tiện, công nghệ quản lý, quản trị nhà xuất bản, …đòi hỏi đặt ra đối với mỗi cơ sở đào tạo là nghiên cứu, xây dựng và đổi mới chương trình đào tạo gắn lý luận với thực tiễn; phát triển đội ngũ giảng viên theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa; tăng cường sự phối hợp giữa nhà trường với các đơn vị làm công tác xuất bản nhằm đảm bảo về chất lượng, số lượng để đáp ứng yêu cầu của ngành xuất bản nói chung, xuất bản điện tử nói riêng.nhanh chóng đổi mới theo kịp những đòi hỏi mới trong thực tiễn hoạt động xuất bản, theo hướng gắn kết chặt chẽ hai yếu tố tư tưởng-văn hóa và kinh tế-công nghệ, nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh, mang lại hiệu quả cao (cả về chính trị-xã hội và kinh tế) cho hoạt động xuất bản trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.
Từ góc độ này, ta có thể khẳng định rằng trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.