mở đầu, người tham gia và có khi như là người nâng đỡ và quyết định đối với mọi quá trình sản xuất, Mếu tn dụng không tạo được tiến nhằm mở ra các quá trình sẵn xuất và với các hoạt động của nó thì sẽ không tạo được các nguồn tích lũy cần thiết cho chính bản thân ngân hàng thương mại và cho nên kinh tế, Tóm lại các chức năng của ngân hàng thương mại có mối quan hệ chật chẽ, bổ sung, hễ trợ cho nhau, trong đó chức năng trung gian tín dụng là chức năng cơ bản nhất, tạo cơ sở cho việc thực biện các chức năng sau, Đồng thời khi ngân hàng thực hiện tốt chức năng trung gian thanh toần và chức năng tạo tiễn thì sẽ góp phân làm tăng nguồn vốn tín đụng, mở rộng quy mô hoạt động ngần hàng. Thông qua các chức năng trên, ngân hàng thương mại đã khẳng định vị trí quan trọng của mình trong nên kính tế. Ngày nay các ngân hãng có sự đấu tử mạnh mé trong việc ứng dụng các công nghệ điện tử vào ngân hàng nhằm đa dạng hóa các loại hình dịch vụ và phục vụ ngày càng tốt hơa cho khách hàng của mình.3 DICH VU NGAN HANG 1.1 Khái niệm Trong hoạt động kinh doanh địch vụ ngân hàng, khái niệm và hình thức của sản phẩm do ngân hàng cung cấp có về khó hiển hơn các sẵn phẩm thông thường khác đo tính phức tạp hơn so với sả phẩm thông thường bao gồm một hến hợp vác yếu tố như giá cá, sự thực hiện, lời hứa và con người. Sản phẩm địch vụ ngân hàng có thể hiểu đó là những gì do các ngân hàng đưa ra thị trường để thu 10 hút sự chú ý, sử đụng hay tiêu đùng nhằm thỏa mãn một ước muốn hoặc nhu cầu nào đó của các cá nhân và chủ thể khác nhau trong xã hội, Ở nước ta, đến nay chưa có sự minh định rõ ràng, còn nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm dịch vụ ngân hang.
C6 quan niệm cho rằng: Dịch vụ ngân hàng không thuộc phạm vị kinh doanh tiến tệ và các hoạt động nghiệp vụ ngân hãng theo chức năng của một trung gian tài chính (huy động tiên gửi cho vay.}; chỉ những hoạt động không thuộc nội dung nói trên mới gọi là dịch vụ ngân hàng ví dụ như chuyển tiến, thu hộ ủy thác, mua bán hộ, môi giới kinh doanh chứng khoán.Một số khác lại cho rằng tất cá hoạt động ngân hàng phục vụ đoanh nghiệp và công chúng đều là dịch vụ ngân hằng, quan niệm này phù hợp với cách phần ngành địch vụ ngân hàng trong dịch vụ tài chính của TỔ chức thương mại thế giới (WTO) và của Hiệp định thương mại Việt ~ Mỹ cũng như theo quan niệm hiện đại ngày nay. Quan niệm theo Tổ chức thương mại thế giới CWTO):“Mội địch vụ tài chính là bất cứ một địch vụ nào có bắn chất tài chính được một nhà cùng cấp dịch vụ tài chỉnh của một nước thành viên chão, Các địch vụ tài chính bao gầm tất cả các địch vụ bảo hiểm, và tất cả địch vụ ngân hàng và các dịch vụ tài chính khác trừ địch vụ bảo hiểm”, trong đó các địch vụ ngân hãng bao gồm các hoạt động nhận tiên gửi: cho vay tất cả các loại, bao gồm cả tín dụng tiêu dùng, tín dung thé chấp; cho thuê tài chính; các dịch vụ thanh toán và chuyển tiễn, kể cả thể tín dụng, séc du lịch và hối phiếu ngân hàng; bảo lãnh và cam kết. Tức là toàn bộ hoại động ngân hàng cung cấp cho xã hội đều thuộc dạng sản phẩm dịch vụ, Như vậy rõ rằng cần có sự nghiên cứu để đi đến thống nhất dịch vụ ngân hang gdm những yếu tố cấu thành nào. VỀ mặt pháp lý, tại khoản 1 và khoản 7 điều 20, Luật các tổ chức tín dụng số 02/1997/QH10 bạn hành ngày 12/12/1997 quy định nhưng không có định nghĩa và giải thích cụm từ “Hoạt động kinh doanh H tiễn tệ và dịch vụ ngân hãng” được bao hàm ở cả ba nội dụng: Nhận tiền gửi, cấp tín dụng, cung cấp địch vụ thanh toán, Tuy nhiên để làm rõ kinh doanh tiễn tệ hay dịch vụ ngân hàng thì Luật chưa phần định rõ, Quan niệm về địch vụ ngân hàng của một số nước trên thế giới: Ở Anh Quốc, hoạt động ngân hàng được phân loại ra 3 loại hình dich vu chính: địch vụ trung gian tài chính gỗm nhận tiền gởi, cho vay; địch vụ thanh toán và các loại dịch vụ khác.
Thao tác giá DAVID COX viết trên cuốn sách nghiệp vụ “NGAN HANG HIỆN ĐẠI” thì hấu hết các hoạt động nghiệp vụ của ngân hãng thương mại đếu gọi là địch vụ ngân hàng hoặc là cơ sở, điều kiện để mở rộng và phát triển dịch vụ ngắn hàng, tác giả chỉ rõ ngân hàng hoạt động với 2 chức năng cơ bản như: nhận và giữ các khoản tiền gửi; chơ phép rút tiển ra và vận hành hệ thống chuyển tiễn; cho vay các khoắn tiền gửi dư thừa tới các khách hàng có nhụ cầu vay vốn. Tại Hoa Kỳ và một số nước khác, khái niệm ngân hàng thương mại được hiểu là những công ty kinh doanh, chuyên cung cấp địch vụ tài chính và hoại động trong ngành dịch vụ tài chính. Địch vụ tài chính là thuật ngữ được diing để chỉ hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực ngân hàng, bảo hiểm và chứng khoản, Dịch vụ tài chính bao gồm mọi dịch vụ bão hiểm và dịch vụ liên quan đến bảo hiểm, mọi dịch vụ ngân hàng và dịch vụ tài chính khác ngoại trừ bảo hiểm. Dịch vụ ngân hàng và dịch vụ tài chính khác thì bao gốm các khoản nhận tiên gửi, cho vay, cho thuê tài chính, tất cả dịch vụ thanh toán và chuyển tiền, bão lãnh và cam kết bảo lãnh.Như vậy rõ rằng quan niệm dịch vụ agân hàng hiểu theo nghĩa bao gồm tất cả hoạt động ngân hàng, 1.3 Các loại hình địch vụ ngân hàng 12 Theo quan niệm về hoạt động ngân hằng trong xu hướng hội nhận thế giới của nhiều nước thì tất cẢ hoạt động của ngân hàng thương mại đều được coi là địch vụ ngân hàng, Với nhu cầu ngày càng cao của xã bội, dich vy ngân hang ngày càng phát triển kể cả về lượng và chất, nên không thể thống kê đây đủ toàn bộ các địch vụ ngân hàng, bên cạnh đó thì việc cung ứng địch vụ ngân hãng còn phải tuỳ thuộc vào năng lực, quy mô hoạt động.của từng ngân hàng.
Tuy nhiên, nhìn chung ta có thể phân chía làm hai loại hình địch vụ ngân hàng: Dịch vụ ngân hàng truyền thống và địch vụ ngân hàng hiện đại. Dịch vụ truyền thống Thực hiện trao đổi ngoại tệ: Đây là dịch vụ đầu tiên và lâu đời nhất của ngắn hàng. Ngân hàng thực hiện mua bán, trao đổi đồng tiền nước này lấy đồng tiển nước khác, chẳng hạn như đổi USD để lẳy VND. Thực hiện nghiệp vụ mua bán ngoại tệ này ngân hàng giúp cho khách hãng để đàng trong việc kinh doanh, giao dịch, du lịch.Ví dụ như khi khách hàng đi du lịch, họ sẽ cảm thấy thuận tiện khi có trong tay đồng bản tệ mà họ đi tới đó.
Trong giao dịch mua bán ngoại tệ với khách hàng trong nước, ngân hàng thương mại chủ yếu giao dịch với các doanh nghiệp có hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu, Ngoài ra, ngân hàng cồn thực hiện mua bán ngoại t¢ với khách bàng cá nhân. Tuy nhiền, giao dịch mua bản ngoại lệ tiển mặt thường chiếm tỷ trọng không lớn trong doanh số mua bán và cách thức giao dịch rất đơn gián. Hiện nay, các ngắn hàng thương mại có thể cung cấp nhiều loại giao dịch mua bán ngoại tỆ từ đơn giản đến phức tạp như: |. Giao dich giáo ngay ngoại tỆ.
Giao dịch kỳ hạn ngoại tỆ. Giao dịch hoán đổi ngoại tệ 13. Giao dịch quyền chọn ngoại t6. Ngày nay, trong điều kiện toàn cầu hóa hệ thống tài chính việc trao đổi nội tệ với ngoại tệ là hoại động thường xuyên và quy mô ngày càng mở rộng gắn với sự phát triển của thương mại và đầu ¡ư quốc tế.
Tuy nhiên do việc mua ban ngoại tệ thường chịu rủi ro cao nên thực hiện nghiệp vụ này thường là các ngân hàng lớn và có tình độ chuyên môn cao. Chiết khấu thương phiếu: Cũng như nghiệp vụ trao đổi tiễn tệ, chiết khấu thương phiếu là một nghiệp vụ ngân hàng cổ điển, ra đời rất sớm và mãi đến ngày nay vẫn được các ngân hàng áp dụng một cách phổ biến. Do trong quan hệ mua bán hàng hóa thường phát sinh mua bán chịu với nhau. Người bán chịu hàng hóa khi nấm trong tay tờ giấy nợ (hay còn gợi lâ thương phiếu hay lệnh phiếu) có thể bán các khoản nợ cho ngân hàng mà không phải đợi đến lúc nó đáo hạn.
Như vậy chiết khẩu là một kỹ thuật tái cấn vốn cho người bán, vì trước đây người bán đã cấp vốn cho người mua dưới hình thức bán chịu hàng hóa, Theo nghĩa hẹp thì chiết khấu là kỹ thuật cấp tín dụng vì thực chất khi chiết khẩu ngân hàng chỉ nhận được quyển đôi ng ở người mua, trong lúc đó đã ứng tiền cho người bán. Thực hiện nghiệp vụ chiết khấu thương phiếu sẽ mang lại lợi ích cho cả ngân hàng và khách hàng chiết khẩu, cụ thể: + Ngân hàng được hưởng hoa hồng phí. + Chiết khẩu thương phiến là nghiệp vụ ft rủi ro đo chiết khấu là một hợp đông được phép truy đôi, vì vậy khi ngân hãng không thu được nợ ở người mua, thì có thể đôi tiễn ở người bán hoặc ở những người liên đới trách nhiệm theo quy định của pháp luật. + Chiết khấu thương phiếu không làm “đóng băng vốn ” của ngân hãng.
id + Khi ngân hàng thực hiện chiết khấu, số tiên cấp cho người xin chiết khấu được chuyển sang tài khoắn tiên gửi, không rút ngay bằng tiển mặt và số tiễn nay khi chưa sử đụng ngay thì sẽ trở thành nguồn vốn của ngắn hàng. + Còn đối với khách hàng chiết khẩu, họ có thể biến các khoản nợ thành tiên nhanh chồng, giải quyết kịp thời nhu cầu vốn để sẵn xuất, kinh đoanh tiếp. Tuy nhiên tại Việt Nam, nghiệp vụ chiếu khấu thương phiểu chưa được cic ngân hàng thương mại áp dụng rộng rãi mặc dù Nhà nước đã bạn hành Luật thương mại và Luậi các công cụ chuyển nhượng để làm cơ sở pháp lý thực hiện.