CHƯƠNG 1 L Ý L U Ậ N C O B Ả N V È C H Á T L Ư Ợ N G V À H IỆ U Q U Ả SẢ N P H Ẩ M D ỊC H V Ụ N G Â N H À N G 1. TỎNG QUAN V È SẢN PHẨM DỊCH v ụ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. T ố n g q u a n về N g â n h à n g th ư ơ n g m ại 1. K h á i niệm N gân h à n g th ư ơ n g m ạ i NHTM là tố chức kinh doanh tiền tệ có vị trí quan trọng nhất ừong nền kinh tế thị trường ở các nước, ở đâu có hệ thống NHTM phát triển thì ở đó có sự phát triển với tốc độ cao của nền kinh tế.
Thế giới có nhiều khái niệm khác nhau về NHTM, tại Mỹ, NHTM được hiểu là một công ty kinh doanh chuyên cung cấp các dịch vụ tài chính và hoạt động trong ngành dịch vụ tài chính. Tại Pháp, NHTM được định nghĩa là những xí nghiệp hay cơ sở mà nghề nghiệp thường xuyên là nhận tiền bạc của công chúng dưới hình thức ký thác, hoặc dưới các hình thức khác và sử dụng tài nguyên đó cho chính họ trong các nghiệp vụ về chiết khấu, tín dụng và tài chính. Tại Việt Nam, theo luật các Tô chức tín dụng năm 2011 thì “NHTM là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận” [14, tr2]. Cũng theo luật đó thì các hoạt động ngân hàng là việc kinh doanh, cung ứng thường xuyên một hoặc một số các nghiệp vụ sau đây: nhận tiền gửi; cấp tín dụng; cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản.
Như vậy có nhiều khái niệm khác nhau về NHTM, nhưng nhìn chung NHTM có thể được hiểu là một tổ chức chuyên về kinh doanh tiền tệ mà đặc trưng là nhận tiền gửi của các tổ chức, cá nhân và kinh doanh trên chính những đồng tiền đó. Chức năng của Ngân hàng thuvng mại Với khái niệm như trên, NHTM có ba chức năng chính sau: M ộ t là , chức n ă n g t r u n g g i a n tín d ụ n g : Chức năng này của NHTM được thể hiện qua sơ đồ luân chuyển vốn sau: Với chức năng trung gian tín dụng, NHTM làm "cầu nối" giữa người thừa vốn và người thiếu vốn. Bằng cách đi vay và cho vay lại, ngân hàng sẽ thu được lợi nhuận chính là phần chênh lệch giữa lãi suất cho vay với lãi suất tiền gửi hoặc hoa hồng môi giới và đây là nguồn thu quan trọng nhất trong các hoạt động của NHTM. Theo ước tính, hiện nay, lợi nhuận từ hoạt động cho vay của các NHTM Việt Nam chiếm tới hơn 80% tổng lợi nhuận của các ngân hàng.
Đối với nền kinh tế, chức năng trung gian tín dụng có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế vì chức năng này không chỉ đáp ứng nhu cầu vốn để đảm bảo quá trình sản xuất được thực hiện liên tục, mở rộng quy mô sản xuất mà nó còn góp phần đẩy nhanh tốc độ luân chuyển vốn trong nền kinh tế, giúp nền kinh tế sử dụng vốn hiệu quả hơn. Với chức năng này, Ngân hàng đã biến vốn nhàn rỗi không hoạt động thành vốn hoạt động, kích thích quá trình luân chuyển vốn, thúc đẩy sản xuất kinh doanh. Nhờ đó mà NHTM được ví như “mạch máu” của nền kinh tế. Chức năng trung gian tín dụng chính là chức năng quan trọng nhất của Ngân hàng thương mại, quyết định sự duy trì và phát triển của Ngân hàng đồng thời là cơ sở để thực hiện các chức năng thanh toán và chức năng tạo tiền.
~ 6 ~ H a i là , c h ứ c n ă n g th ủ q u ỹ v à t r u n g g i a n th a n h to á n Chức năng trung gian thanh toán có nghĩa là ngân hàng đứng ra thanh toán hộ cho khách hàng bằng cách chuyển tiền từ tài khoản này sang tài khoản khác theo yêu cầu của họ. Thông qua chức năng này Ngân hàng đóng vai trò là người "thủ quỹ" cho các doanh nghiệp và cá nhân bởi ngân hàng là người giữ tiền của khách hàng, chi tiền hộ cho khách hàng. Nen kinh tế thị trường càng phát triển thì chức năng này của ngân hàng ngày càng được mở rộng. Thông qua chức năng trung gian thanh toán, hệ thống Ngân hàng thưcmg mại góp phần phát triển nền kinh tế.
Khi khách hàng thực hiện thanh toán qua ngân hàng sẽ làm giảm rủi ro, giảm chi phí thanh toán cho khách hàng đồng thời tốc độ luân chuyển vốn kinh doanh của khách hàng nhanh hon, làm cho hiệu quả sử dụng vốn của khách hàng tăng. Đối với Ngân hàng thương mại chức năng này góp phần tăng lợi nhuận của ngân hàng thông qua việc thu lệ phí thanh toán. Hơn nữa, nó lại tăng nguồn vốn cho vay của ngân hàng thể hiện trên số dư có tài khoản tiền gửi của khách hàng. Chức năng này cũng chính là cơ sở dê hình thành chức năng tạo tiền của Ngân hàng thương mại.
B a là , c h ứ c n ă n g tạ o tiề n Chức năng này là hệ quả của hai chức năng trên trong hoạt động ngân hàng: Từ số tiền dự trữ ban đầu thông qua hoạt động cho vay và thanh toán bằng chuyển khoản của ngân hàng, một lượng tiền gửi mới được tạo ra và lớn hơn so với lượng dự trữ ban đầu gấp nhiều lần, gọi là quá trình tạo tiền của hệ thông ngân hàng. Một ngân hàng sau khi nhận một món tiền gửi, trên tài khoản tiền gửi của khách hàng tại ngân hàng sẽ có số dư. Với số tiền này sau khi đã để lại một khoản dự trữ bắt buộc, ngân hàng sư đem đi đầu tư, cho vay từ đó nó sẽ chuyến sang vốn tiền gửi của ngân hàng khác. Với vòng quay của vốn thông qua chức năng tín dụng và thanh toán của ngân hàng.
Ngân hàng thưcmg mại thực hiện được chức năng tạo tiền. Vai trò của Ngân hàng thương mại Vai trò của NHTM đổi với nền kỉnh tế NHTM là nơi cung cấp vốn cho nền kinh tế, là động lực giúp kinh tế tăng trưởng. Nhờ thực hiện chức năng trung gian tín dụng, NHTM cân đối được vốn trong nền kinh tế giúp cho các thành phần kinh tế cùng nhau phát triển. Các ngân hàng đứng ra huy động vốn tạm thời nhàn rỗi từ các doanh nghiệp, các cá nhân sau đó sẽ cung ứng lại cho nơi cần vốn để tiến hành tái sản xuất với trang thiết bị hiện đại hơn, tạo ra sản phẩm tốt hơn, có lợi nhuận cao hơn.
Xã hội càng phát triển nhu cầu vốn cần cho nền kinh tế càng tăng, ngân hàng với chức năng trung gian tài chính điều hoà, phân phối vốn giúp cho tất cả các thành phần kinh tể cùng nhau phát triển nhịp nhàng, cân đối. NHTM là công cụ vĩ mô giúp Nhà nước điều tiết nền kinh tế. Thông qua hoạt động tín dụng và thanh toán, NHTM đã trực tiếp góp phần mở rộng khối lượng tiền cung ứng trong lưu thông. Mặt khác với việc cho các thành phần trong nền kinh tế vay vốn, NHTM đã thực hiện việc dẫn dắt các luồng tiền, tập hợp và phân chia vốn của thị trường.
Nhờ có công tác thẩm định trước khi cho vay, NHTM phân bổ vốn một cách có hiệu quả, bảo đảm cung cấp đầy đủ kịp thời cho quá trình tái sản xuất cũng như thực thi vai trò điều tiết gián tiếp nền kinh tế. NHTM là “cầu nối” nền tài chính quốc gia với nền tài chính quốc tế. Bằng việc thực hiện các nghiệp vụ: thanh toán quốc tế, tài trợ xuất nhập khẩu, cho vay, ủy thác đầu tư với nước ngoài., các NHTM đã góp phần tạo điều kiện thúc đẩy ngoại thương không ngừng mở rộng và phát triển. Vai trò của NHTM đối vói các tổ chức kinh tế —xã hội 8 Vai trò lớn nhất của NHTM đối với các tổ chức kinh tế - xã hội chính là cung cấp vón cho các doanh nghiệp thực hiện quá trình sản xuất kinh doanh.
Với số tiền huy động được, NHTM cấp tín dụng đối với các doanh nghiệp, đáp ứng kịp thời nhu cầu về vốn trong quá trình kinh doanh của họ. Ngoài ra, NHTM còn giúp các doanh nghiệp và các tổ chức khác thuận tiện hơn trong các giao dịch với đối tác trong và ngoài nước bằng việc cung cấp các dịch vụ thanh toán và tài trợ xuất nhập khẩu,. Vai trò của NHTM đổi vói cá nhân Cũng giống như doanh nghiệp, NHTM đáp ứng nhu cầu về vốn của các cá nhân thông qua hoạt động cấp tín dụng. Tuy nhiên, vai trò lớn nhất của NHTM với các khách hàng này là việc giúp các khoản tiền nhàn rỗi của họ được sinh lời và an toàn.
NHTM huy động tiền gửi trong dân cư để kinh doanh và trả lãi cho số tiền gửi đó. Nhờ vậy, mà khoản tiền nhàn rỗi của dân chúng có thể sinh lời và tránh được các rủi ro như mất cắp, hư hỏng,. Ngoài ra, các cá nhân còn có thể bảo đảm an toàn cho đồng tiền của mình và nhận dược thêm các tiện ích bằng cách lựa chọn các dịch vụ: thanh toán qua ngân hàng, chuyển tiền,. Xã hội ngày càng phát triển, cùng với sự phát triển của công nghệ, các tiện ích mà dịch vụ ngân hàng mang lại cho cá nhân cũng có xu hướng ngày một tăng.
T ổ n g q u a n sả n p h ẩ m d ịch vụ c ủ a N g â n h à n g th ư ơ n g m ạ i 1. Khải niệm sản phẩm dịch vụ Ngân hàng thương mại Khái niệm về sản phẩm dịch vụ ngân hàng lại tương đối phức tạp vì sản phấm dịch vụ ngân hàng mang tính tổng họp, đa dạng và nhạy cảm của hoạt động kinh doanh ngân hàng. Đứng trên góc độ thoả mãn nhu cầu khách hàng thì có thể hiểu sản phẩm dịch vụ ngân hàng là tập họp những đặc điểm, tính /N / ^ năng, công dụng do ngân hàng tạo ra nhằm thoả mãn nhu cầu và mong muốn nhất định của khách hàng trên thị trường tài chính. Ớ nước ta, đến nay chưa có sự xác định rõ ràng về khái niệm dịch vụ ngân hàng.
Một số ý kiến cho rằng, các hoạt động sinh lời của ngân hàng thương mại ngoài hoạt động cho vay thì được gọi là hoạt động dịch vụ.