Chương 1. Một số vấn đề cơ bản về chất lượng cho vay đối với khách hàng cá nhân của Ngân hàng Thương mại. Thực trạng chất lượng cho vay đối với khách hàng cá nhân tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - chi nhánh Thăng Long. Giải pháp nâng cao chất lượng cho vay đối với khách hàng cá nhân tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - chi nhánh Thăng Long.
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CHẤT LƯỢNG CHO VAY ĐỐI VỚI KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Tổng quan về cho vay khách hàng cá nhân của Ngân hàng Thương mại 1. Khái niệm cho vay đối với khách hàng cá nhân Ngân hàng Thương mại (NHTM) đóng vai trò quan trọng trong hệ thống tài chính và nền kinh tế của một quốc gia thông qua các hoạt động huy động vốn, cung cấp dịch vụ cho vay, đầu tư và cung cấp các sản phẩm tài chính khác. Trong đó, hoạt động cho vay là một trong những nghiệp vụ chủ yếu của ngân hàng, đóng góp lớn vào doanh thu và lợi nhuận, đồng thời hỗ trợ nhu cầu vốn của cá nhân và nền kinh tế.
Theo Nguyễn Văn Tiến (2014) đưa ra khái niệm: “Tín dụng ngân hàng là việc ngân hàng chấp thuận để khách hàng sử dụng một lượng tài sản (bằng tiền, tài sản thực hay uy tín) trên cơ sở lòng tin khách hàng có khả năng hoàn trả gốc và lãi khi đến hạn. Ngân hàng cấp tín dụng bằng các nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bảo lãnh và các nghiệp vụ khác”. Như vậy, nội dung tín dụng là rộng hơn nội dung cho vay, tuy nhiên trong hoạt động tín dụng, thì cho vay là hoạt động quan trọng nhất và chiếm tỷ trọng lớn nhất tại các ngân hàng. Theo Phan Thị Thu Hà (2023): “Cho vay là việc ngân hàng cấp tiền cho khách hàng với cam kết khách hàng phải hoàn trả cả gốc và lãi trong khoảng thời gian xác định.
Ngân hàng có thể cho vay bằng tiền mặt hoặc chuyển khoản, tiền có thể chuyển tới tài khoản của khách hàng hoặc tài khoản của người bán hàng cho khách hàng.” Ngoài ra, theo Thông tư 12/2024/TT-NHNN (sửa đổi, bổ sung Thông tư số 39/2016/TT-NHNN): “Cho vay là hình thức cấp tín dụng thông qua việc tổ chức tín dụng giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định, trong một thời gian nhất định, theo nguyên tắc có hoàn trả đầy đủ tiền gốc, lãi theo thỏa thuận cho tổ chức tín dụng.” Khách hàng cá nhân là các cá nhân có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự và chịu trách nhiệm dân sự theo quy định của pháp luật. Đối tượng vay vốn đa dạng bao gồm những khách hàng có nhu cầu vay vốn mua nhà, xây sửa nhà, mua ô tô, các thiết bị gia dụng, thực hiện các phương án sản xuất kinh doanh, mua sắm trang thiết bị và đáp ứng các nhu cầu tiêu dùng khác. Như vậy, cho vay đối với KHCN tại NHTM là hình thức cấp tín dụng mà trong đó NHTM đóng vai trò là người chuyển nhượng quyền sử dụng vốn của mình cho 4 KHCN một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc hoàn trả cả gốc và lãi. Đặc điểm của cho vay đối với khách hàng cá nhân Dựa vào những nhận định của Peter S.Rose (2004) ta có thể rút ra có một số đặc điểm của các khoản cho vay đối với KHCN như sau: - Khách hàng vay: Là các cá nhân và hộ gia đình có nhu cầu vay vốn.
- Mục đích vay: Đáp ứng nhu cầu tiêu dùng như mua nhà, ô tô, chi tiêu sinh hoạt hoặc phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh, đầu tư nhỏ lẻ. - Quy mô nhỏ, số lượng lớn: thông thường các khoản vay cá nhân thường có giá trị nhỏ nhưng số lượng lại rất nhiều. Các khoản vay phát sinh liên tục với tần suất giao dịch lớn, đem lại lợi nhuận đáng kể nếu quản lý tốt. - Rủi ro cao: Khoản vay cá nhân thường phụ thuộc vào thu nhập của người vay, dễ bị tác động bởi các yếu tố như tình trạng công việc hoặc sức khỏe.
Những biến cố như mất việc làm hoặc ốm đau có thể ảnh hưởng tiêu cực đến khả năng trả nợ. Ngân hàng khó kiểm soát rủi ro này và việc thu thập thông tin về khách hàng cá nhân thường phức tạp hơn so với doanh nghiệp. - Lãi suất cao: Lãi suất của các khoản vay cá nhân thường cao hơn do chi phí thẩm định, quản lý và rủi ro cao hơn. Lãi suất còn linh động tùy thuộc từng đối tượng khách hàng và được điều chỉnh định kỳ theo quy định.
- Chi phí cho vay cao: Ngân hàng phải đầu tư nhiều vào nhân lực và công cụ để quản lý số lượng lớn các khoản vay có giá trị nhỏ. Chi phí bình quân trên mỗi đồng vốn cho vay KHCN thường cao hơn so với các loại cho vay khác. Mặc dù chi phí cao, nhưng nếu được quản lý tốt, lợi nhuận từ các khoản vay này vẫn rất đáng kể. - Hồ sơ đơn giản hơn cho vay đối với KHDN: Không có hệ thống báo cáo tài chính chuẩn mực như doanh nghiệp, việc thẩm định thường phức tạp và phụ thuộc nhiều vào kinh nghiệm của cán bộ tín dụng.
Thiếu thông tin tài chính công khai cũng gây khó khăn trong việc đánh giá khả năng tài chính của khách hàng. - Thời hạn trả nợ: linh hoạt, chủ yếu là các khoản vay ngắn hạn và trung hạn. Phân loại cho vay đối với khách hàng cá nhân Dựa vào cách phân loại các nghiệp vụ tín dụng của NHTM theo Phan Thị Thu Hà (2023) ta có thể đưa ra một số các tiêu thức phân loại hoạt động cho vay đối với KHCN như sau: 5 - Phân loại theo thời hạn cho vay: Cho vay ngắn hạn: là khoản vay có thời hạn vay đến 12 tháng, thường vay để phục vụ nhu cầu vốn tạm thời và chi tiêu sinh hoạt cá nhân, ít rủi ro. Cho vay trung dài hạn: là khoản vay có thời hạn trên 12 tháng, thường vay để mua tài sản cố định, mở rộng sản xuất kinh doanh, đầu tư.
- Phân loại theo mục đích sử dụng vốn: Cho vay sản xuất kinh doanh: sử dụng vốn vay cho hoạt động kinh doanh, trả nợ từ doanh thu bán hàng, lãi suất thấp. Cho vay tiêu dùng: Phục vụ chi tiêu cá nhân, gia đình, trả nợ một lần hoặc định kỳ, giúp người vay thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng. - Phân loại theo cách thức xác định số tiền cho vay: Cho vay từng lần: Dựa trên hợp đồng tín dụng cụ thể, trả nợ gốc một lần. Cho vay hạn mức tín dụng: Giới hạn dư nợ không vượt quá hạn mức đã thỏa thuận.
Cho vay hạn mức thấu chi: Chi trội trên số dư tiền gửi thanh toán đến một giới hạn nhất định và trong khoảng thời gian xác định. - Phân loại theo hình thức hình thành khoản vay: Cho vay trực tiếp: Khách hàng có nhu cầu vay vốn giao dịch trực tiếp với ngân hàng. Cho vay gián tiếp: Khách hàng có nhu cầu vay vốn thông qua các tổ chức trung gian như hội nông dân, hội phụ nữ,… - Phân loại theo hình thức bảo đảm nợ vay: Cho vay có tài sản bảo đảm: Dựa trên tài sản thế chấp, cầm cố, hoặc bảo lãnh của bên thứ ba, rủi ro cao nếu tài sản mất giá hoặc người bảo lãnh không thực hiện nghĩa vụ. Cho vay tín chấp: Dựa vào uy tín khách hàng, không cần tài sản thế chấp, áp dụng cho khách hàng có tài chính lành mạnh.
Vai trò của hoạt động cho vay đối với khách hàng cá nhân - Đối với NHTM: Hoạt động cho vay đối với KHCN tạo ra thu nhập cho ngân hàng, bên cạnh đó giúp quảng bá, nâng cao thương hiệu ngân hàng do phạm vi khách 6 hàng rộng lớn, làm cho hình ảnh ngân hàng phổ biến hơn. Ngoài việc cho vay, ngân hàng còn dễ dàng bán chéo các sản phẩm dịch vụ khác như tiền gửi, thanh toán, bảo hiểm, thẻ và dịch vụ ngân hàng điện tử,. Việc cho vay đối với KHCN cũng giúp các NHTM có thể phân tán rủi ro, giảm thiểu tác động khi một số khách hàng không thể trả nợ so với rủi ro lớn hơn từ cho vay doanh nghiệp. - Đối với KHCN: Cho vay đối với KHCN linh hoạt hóa việc đáp ứng nhu cầu tiêu dùng và đầu tư.
Khách hàng có thể vay để đáp ứng nhu cầu hiện tại như mua nhà, ô tô, chi tiêu cấp bách, hay đầu tư SXKD với lãi suất hợp lý. Điều này giúp khách hàng nâng cao chất lượng cuộc sống và hỗ trợ sản xuất kinh doanh cho các hộ gia đình, phù hợp với kinh doanh nhỏ lẻ. - Đối với nền kinh tế - xã hội: Cho vay đối với KHCN hỗ trợ vốn cho người dân trang trải chi phí, cải thiện chất lượng cuộc sống, thúc đẩy sản xuất, tạo việc làm và nâng cao tính cạnh tranh trong hệ thống ngân hàng. Hoạt động này giúp lưu thông vốn từ nơi thừa đến nơi thiếu, kích cầu kinh tế, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, thu hút lao động, xóa đói giảm đói nghèo và ổn định xã hội.
Quy trình cho vay đối với khách hàng cá nhân Theo Phan Thị Thu Hà (2023), “tùy theo đặc điểm tổ chức và mô hình quản trị thì mỗi ngân hàng đều tự thiết kế và xây dựng cho mình một quy trình riêng nhưng đều bao gồm 3 phần: quy trình tín dụng trước khi giải ngân, trong và sau khi giải ngân. Quy trình tín dụng được chia chi tiết thành 8 nội dung. Mỗi nội dung được cụ thể thành các công việc.” Trên cơ sở đó ta có các bước cho vay đối với KHCN như sau: Bước 1: Tiếp thị khách hàng, hướng dẫn hồ sơ, thủ tục vay vốn và lập báo cáo đề xuất tín dụng Cán bộ tín dụng tìm kiếm và tiếp thị khách hàng, nắm bắt nhu cầu và thông báo chính sách cho vay. Dựa trên hồ sơ, giấy tờ và thông tin tài chính cần thiết thu thập được, cán bộ tín dụng tạo lập hồ sơ vay vốn, thẩm định sơ bộ và lập báo cáo đề xuất tín dụng.
Bước 2: Công tác thẩm định, đánh giá khách hàng Đề xuất tín dụng phải được cán bộ tín dụng chuyển cho bộ phận quản lý rủi ro thẩm định để đánh giá nguy cơ và mức độ rủi ro. Nếu đề xuất tín dụng được đánh giá là không hoàn chỉnh hoặc không đầy đủ, bộ phận quản lý rủi ro tín dụng sẽ nhận xét và chuyển trả lại cho bộ phận lập đề xuất tín dụng.