CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CHẤT LƯỢNG CHO VAY KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Tổng quan về cho vay khách hàng doanh nghiệp của ngân hàng thương mại 1. Hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại 1. Khái niệm Khái niệm cho vay được định nghĩa bởi nhiều ý kiến như sau: Cho vay là việc ngân hàng cấp tiền cho khách hàng với cam kết khách hàng phải hoàn trả cả gốc và lãi trong khoảng thời gian nhất định.
Ngân hàng có thể cho vay bằng tiền mặt hoặc chuyển khoản, tiền có thể chuyển tới tài khoản của khách hàng hoặc tài khoản của người bán hàng cho khách hàng (Phan Thị Thu Hà, 2023). Cho vay là chức năng kinh tế hàng đầu của Ngân hàng, để tài trợ chi tiêu của doanh nghiệp, các cá nhân và các cơ quan chính phủ. Cho vay của ngân hàng có mối quan hệ mật thiết với tình hình phát triển kinh tế khu vực mà ngân hàng phục vụ. Thông qua các khoản vay của ngân hàng, thị trường sẽ có thêm các thông tin về chất lượng tín dụng của từng khách hàng, giúp họ có khả năng nhận thêm các khoản cho vay mới từ những nguồn khác với chi phí thấp hơn (Peter Rose, 2001).
Cho vay là một hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời hạn nhất định theo giá thoả thuận với nguyên tắc có hoàn trả gốc và lãi. Thời hạn nhất định ở đây chính là thời hạn cho vay. Cho vay là quan hệ chuyển nhượng tài sản (vốn) giữa Ngân hàng với các chủ thể khác trong nền kinh tế; trong mối quan hệ này, Ngân hàng vừa giữ vai trò là người đi vay (con nợ) vừa giữ vai trò là người cho vay (chủ nợ). Đây là quan hệ tín dụng gián tiếp mà người tiết kiệm, thông qua vai trò trung gian của Ngân hàng, thực hiện đầu tư vốn vào các chủ thể có nhu cầu về vốn trong nền kinh tế (Nguyễn Văn Tiến, 2013).
Tóm lại, theo tác giả có thể hiểu cho vay của NHTM là quan hệ giữa một bên là người cho vay (NHTM) bằng cách chuyển giao tiền hoặc tài sản cho bên vay (khách hàng vay) để sử dụng trong thời gian nhất định với cam kết của người vay là hoàn trả cả gốc và lãi đầy đủ khi đến hạn. Phân loại hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại - Phân loại theo thời hạn cho vay: + Cho vay ngắn hạn: là hình thức cho vay có thời gian đáo hạn dưới 12 tháng. Cho vay ngắn hạn nhằm tài trợ nhu cầu vốn lưu động, đáp ứng các nhu cầu vốn ngắn hoặc tiêu dùng. 13 + Cho vay trung hạn: là hình thức cho vay có thời gian đáo hạn trên 12 tháng đến 60 tháng.
Cho vay trung hạn thường được sử dụng để mua tài sản cố định, nâng cấp hoặc mua mới thiết bị, công nghệ, mở rộng thiết bị sản xuất – kinh doanh, hay để đầu tư cho các dự án trung hạn có thời gian tương ứng. + Cho vay dài hạn: là hình thức cho vay có thời gian đáo hạn trên 60 tháng. Loại cho vay này được sử dụng nhằm cấp vốn cho các dự án lớn, đầu tư xây dựng cơ bản, cải tiến khoa học công nghệ, xây dựng nhà máy sản xuất,…những dự án có thời gian thu hồi vốn dài trên 60 tháng. - Phân loại theo mục đích sử dụng vốn vay: + Cho vay tiêu dùng: là khoản cho vay nhằm mục đích phục vụ nhu cầu chi tiêu sinh hoạt của các cá nhân, hộ gia đình và kể cả doanh nghiệp như: mua ô tô, mua nhà, cưới hỏi, khám chữa bệnh,… + Cho vay sản xuất - kinh doanh: là khoản cho vay nhằm mục đích phục vụ các hoạt động kinh doanh, sản xuất của cá nhân, hộ gia đình và doanh nghiệp.
Cụ thể như: mua hàng hoá, mua sắm trang thiết bị, nhà xưởng, sửa chữa cơ sở sản xuất – kinh doanh,… - Phân loại theo hình thức đảm bảo khoản vay: + Cho vay có tài sản đảm bảo: Ngân hàng đưa ra điều kiện đối với khách hàng bao gồm: tài sản thế chấp, cầm cố hoặc bảo lãnh bởi bên thứ ba phù hợp với pháp lý và quy định riêng của ngân hàng + Cho vay tín chấp (không có tài sản đảm bảo): hình thức này thường chỉ áp dụng với khách hàng truyền thống, có uy tín cao. - Phân loại theo phương thức cho vay: + Cho vay từng lần: đây là phương thức cho vay mà ngân hàng xác định số tiền cho vay theo từng lần hay từng món, theo từng nhu cầu vay cụ thể của khách hàng. Cho vay từng lần là hình thức phổ biến của ngân hàng. Mỗi lần vay, khách hàng phải làm đơn và trình ngân hàng phương án sử dụng vốn vay.
Ngân hàng sẽ phân tích khách hàng, thẩm định dự án và ký hợp đồng cho vay, xác định mục đích, quy mô cho vay, thời hạn giải ngân, thời hạn trả nợ, lãi suất và yêu cầu đảm bảo nếu cần. Mỗi món vay được tách biệt nhau thành các hồ sơ (khế ước nhận nợ) khác nhau. Theo từng kỳ hạn nợ trong hợp đồng, ngân hàng sẽ thu gốc và lãi. Cho vay từng lần rất phổ biến trong hoạt động của ngân hàng, áp dụng với các khách hàng có quan hệ vay mượn không thường xuyên/ không liên tục.
14 + Cho vay theo hạn mức tín dụng: là nghiệp vụ mà theo đó, ngân hàng thoả thuận cấp cho khách hàng hạn mức tín dụng trong khoảng thời gian và cho vay theo hạn mức tín dụng đó. Như vậy, khi cấp hạn mức, ngân hàng cam kết cho vay nếu khách hàng đáp ứng đủ điều kiện. Hạn mức tín dụng là mức dư nợ vay tối đa được duy trì trong một thời gian nhất định (thường là một năm) mà ngân hàng và khách hàng đã thoả thuận trong hợp đồng hạn mức. Hạn mức tín dụng được cấp trên cơ sở kế hoạch sản xuất – kinh doanh, nhu cầu vốn và nhu cầu vay vốn của khách hàng.
Trong kỳ, khách hàng có thể vay trả nhiều lần, song dư nợ không được vượt quá hạn mức tín dụng trong kỳ. Một số trường hợp ngân hàng quy định hạn mức cuối kỳ hoặc bình quân. Trên cơ sở hợp đồng hạn mức, mỗi lần vay, khách hàng chỉ cần trình bày phương án sử dụng tiền vay, nộp các chứng từ chứng minh đã mua hàng/dịch vụ và nêu yêu cầu thanh toán. Ngân hàng có thể thu nợ theo kỳ hạn nợ của từng hợp đồng cho vay, hoặc thu nợ khi khách hàng có nguồn thu về tài khoản.
Tài sản đảm bảo (nếu có) sẽ được sử dụng cho cả hạn mức. Ngoài lãi vay, ngân hàng có thể yêu cầu khách hàng phải trả thêm phí cam kết cho hạn mức. Đây là hình thức cho vay thuận tiện đối với những khách hàng vay mượn thường xuyên, vốn vay tham gia thường xuyên vào quá trình sản xuất – kinh doanh (ngân hàng cam kết cho vay, thời gian xét duyệt cho từng lần vay nhanh, đảm bảo tiền vay thuận tiện). Đối với khách hàng có uy tín, ngân hàng sẽ thu nợ khi khách hàng có thu nhập, chứ không định kỳ hạn nợ cụ thể cho từng lần vay, do đó, tạo điều kiện chủ động quản lý ngân quỹ cho khách hàng.
+ Cho vay theo dự án đầu tư: Ngân hàng cho khách hàng vay vốn để thực hiện các dự án đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh và các dự án đầu tư phục vụ đời sống. + Cho vay hợp vốn: Một nhóm TCTD cùng cho vay đối với một dự án vay vốn hoặc phương án vay vốn của khách hàng; trong đó, một TCTD làm đầu mối dàn xếp, phối hợp với các TCTD khác. + Cho vay theo hạn mức tín dụng dự phòng: TCTD cam kết đảm bảo sẵn sàng cho khách hàng vay vốn trong phạm vi hạn mức tín dụng nhất định. TCTD và khách hàng thoả thuận thời hạn hiệu lực của hạn mức tín dụng dự phòng, mức phí trả cho hạn mức tín dụng dự phòng.
+ Cho vay theo hạn mức thấu chi: là nghiệp vụ mà qua đó ngân hàng cho phép khách hàng được chi trội (vượt) trên số dư tiền gửi thanh toán của mình đến một giới hạn nhất định và trong khoảng thời gian nhất định. Giới hạn này được gọi là hạn mức thấu chi. Thấu chi dựa trên cơ sở thu và chi của khách hàng không phù hợp về thời gian và quy mô, ví dụ, thu nhập đều đặn trong năm, song chi tiêu cao trong vài tháng. Do vậy, hình thức cho vay này tạo điều kiện thuận lợi cho khách hàng trong quá trình thanh 15 toán: chủ động, nhanh, kịp thời.
Thấu chi là hình thức cho vay ngắn hạn, linh hoạt, thủ tục đơn giản, có thể cấp cho cả doanh nghiệp lẫn cá nhân vài ngày trong tháng, vài tháng trong năm dùng để trả lương, thanh toán các khoản phải nộp, mua hàng,…Hình thức này nhìn chung chỉ sử dụng đối với các khách hàng có độ tin cậy cao, thu nhập đều đặn và kỳ thu nhập ngắn. + Cho vay thông qua nghiệp vụ phát hành và sử dụng thẻ tín dụng: thẻ tín dụng là thẻ cho phép chủ thể thực hiện giao dịch thẻ trong phạm vi hạn mức tín dụng đã được cấp theo thoả thuận với tổ chức phát hành thẻ. Thẻ tín dụng giúp khách hàng mua hàng trước và thanh toán sau cho ngân hàng. Cho vay qua thẻ phát triển nhanh, rộng khắp, là một hình thức dịch vụ ngân hàng bán lẻ/dịch vụ ngân hàng hiện đại.
Thẻ được cấp cho khách hàng cá nhân – số lượng đông, nhu cầu dịch vụ tài chính lớn – với các tiện ích thanh toán nhanh chóng, mọi lúc mọi nơi, sử dụng thuận tiện. Thẻ tín dụng áp dụng tín dụng hạn mức tuần hoàn. Ngân hàng cấp cho chủ thẻ hạn mức nhất định trong khoảng một đến vài tháng để phục vụ nhu cầu chi tiêu. Quy mô hạn mức phụ thuộc vào nguồn thu nhập để trả nợ (ví dụ: tiền lương), hoặc tài sản đảm bảo.
Nhìn chung, thẻ tín dụng không được rút tiền mặt tại ATM, mà phải thanh toán chuyển khoản. Sau thời hạn nhất định, chủ thẻ phải trả nợ cho ngân hàng, lúc đó hạn mức trên thẻ được lập lại (hạn mức tuần hoàn). Hình thức cấp tín dụng qua thẻ tín dụng gây nhiều rủi ro cho ngân hàng vì ngân hàng khó kiểm soát được nguồn thu nhập của khách hàng. Khi kinh tế suy thoái, thất nghiệp tăng, hàng triệu người dùng thẻ tín dụng sẽ không có khả năng trả nợ.
+ Cho vay trả góp: là hình thức cho vay mà theo đó, ngân hàng yêu cầu khách hàng trả gốc làm nhiều lần trong thời hạn tín dụng đã thoả thuận.