phần mở đầu và kết luận, luận văn có bố cục theo 3 chƣơng, nhƣ sau: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về mua bán, sáp nhập NHTM Chƣơng 2: Thực trạng hoạt động mua bán, sáp nhập NHTM – trƣờng hợp nghiên cứu tại NHTMCP Sài Gòn thƣơng tín Chƣơng 3: Giải pháp nhằm phát triển hoạt động mua bán, sáp nhập ngân hàng thƣơng mại Việt Nam đến năm 2020 xx xxi CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ MUA BÁN VÀ SÁP NHẬP NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. KHÁI NIỆM VỀ MUA BÁN VÀ SÁP NHẬP NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Các khái niệm liên quan đến mua bán và sáp nhập NHTM Mua bán và sáp nhập (Mergers and Acquisitions) là thuật ngữ dùng để chỉ hoạt động mua bán, hợp nhất và sáp nhập giữa các doanh nghiệp. Kể từ lần đầu tiên xuất hiện vào cuối thế kỷ XIX, hoạt động mua bán sáp nhập đã phát triển mạnh mẽ trên thế giới.
Ngân hàng thƣơng mại là một loại hình doanh nghiệp trong nền kinh tế nên có thể hiểu hoạt động mua bán sáp nhập ngân hàng tƣơng tự nhƣ mua bán, sáp nhập doanh nghiệp. Theo Từ điển thuật ngữ tài chính Investopia, sáp nhập (merger) là khi hai công ty đạt đƣợc thỏa thuận hình thành một công ty mới duy nhất thay thế cho sự tồn tại của cả hai công ty. Hoạt động mua bán (acquisitions) là hoạt động của một công ty mua lại phần lớn hoặc tất cả quyền sở hữu của một công ty khác nhằm nắm quyền kiểm soát công ty bị mua lại. Một số nghiên cứu của các tác giả nhƣ Andrew J.Sherman và Millerdge A.
Scott (2003)… đã đƣa ra định nghĩa cụ thể hơn về mua bán, sáp nhập. Cụ thể, Andrew J.Sherman và Millerdge A. Hart (2006) đã đƣa ra định nghĩa về mua bán, sáp nhập nhƣ sau: (1) Mua bán là việc một công ty (công ty đi mua) mua lại một tài sản nhƣ một nhà máy, một bộ phận của công ty khác (công ty mục tiêu) hoặc mua lại toàn bộ công ty mục tiêu; (2) Sáp nhập là sự kết hợp của hai hay nhiều công ty và sau khi sáp nhập, tài sản và vốn của công ty bị sáp nhập sẽ thuộc về công ty nhận sáp nhập. Nhƣ vậy, sáp nhập sẽ làm cho công ty bị sáp nhập biến mất.
Hay trong Wall Street Words: An A to Z Guide to Investment Term for Today’s Investor, David L. Scott (2003) đã định nghĩa sáp nhập là hai hay nhiều cty cùng kết hợp lại với nhau để tạo thành một công ty duy nhất có quy mô lớn hơn. Kết quả của quá trình sáp nhập là có một công ty sống sót thể hiện qua việc giữ lại đƣợc tên và đặc thù, còn công ty còn lại ngừng tồn tại. Một trƣờng hợp khác của sáp nhập 1 là hợp nhất (consolidation), xảy ra khi cả hai công ty sáp nhập ngƣng hoạt động để thành lập ra một công ty khác.
Ông cũng định nghĩa hoạt động mua bán là hành động một công ty (công ty đi mua – acquirer) mua lại cổ phiếu hoặc tài sản của một công ty mục tiêu (target) để trở thành chủ sở hữu của công ty đó. Công ty đi mua có hai cách để thực hiện việc mua lại gồm mua lại cổ phiếu và mua lại tài sản. Trong đó, mua lại cổ phiếu đƣợc hiểu là công ty đi mua sẽ dùng tiền để mua lại cổ phiếu phổ thông, cổ phiếu biểu quyết hoặc các chứng khoán khác của công ty mục tiêu. Mua lại tài sản là công ty đi mua có thể mua lại một phần hoặc toàn bộ tài sản của công ty mục tiêu.
Khi đó, tài sản của công ty đi mua sẽ tăng lên do tài sản của công ty mục tiêu chuyển sang, điều này làm cho các nhà đầu tƣ trên thị trƣờng kỳ vọng về sự tăng giá trị của cổ phiếu trên thị trƣờng. (Vũ Hoàng Nam, 2016) Bên cạnh nghiên cứu của các tác giả, pháp luật các nƣớc cũng đƣa ra những định nghĩa liên quan đến mua bán và sáp nhập. Ở Việt Nam, Luật Doanh nghiệp năm 2014 định nghĩa sáp nhập doanh nghiệp là “một hoặc một số công ty (công ty bị sáp nhập) có thể sáp nhập vào một công ty khác (công ty nhận sáp nhập) bằng cách chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp sang công ty nhận sáp nhập, đồng thời, chấm dứt sự tồn tại của công ty bị sáp nhập”. Cũng trong luật này, hợp nhất doanh nghiệp đƣợc hiểu là hai hoặc một số công ty (công ty bị hợp nhất) có thể hợp nhất thành một công ty mới (công ty hợp nhất), đồng thời chấm dứt sự tồn tại của các công ty bị hợp nhất.
Văn bản pháp lý đƣa ra định nghĩa về hoạt động mua bán, sáp nhập ngân hàng tại Việt Nam là Thông tƣ số 04/2010/TT-NHNN ban hành ngày 11/2/2010 của NHNN về việc “Quy định việc sáp nhập, hợp nhất, mua lại tổ chức tín dụng”. Trong đó: - Sáp nhập tổ chức tín dụng là hình thức một hoặc một số tổ chức tín dụng (tổ chức tín dụng bị sáp nhập) sáp nhập vào một tổ chức tín dụng khác (tổ chức tín dụng nhận sáp nhập) bằng cách chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp sang tổ chức tín dụng nhận sáp nhập, đồng thời chấm dứt sự tồn tại của tổ chức tín dụng bị sáp nhập. 2 - Hợp nhất tổ chức tín dụng là hình thức hai hoặc một số tổ chức tín dụng (tổ chức tín dụng bị hợp nhất) hợp nhất thành một tổ chức tín dụng mới bằng cách chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp sang tổ chức tín dụng hợp nhất, đồng thời chấm dứt sự tồn tại của các tổ chức tín dụng bị hợp nhất. - Mua lại tổ chức tín dụng là hình thức một tổ chức tín dụng (tổ chức tín dụng mua lại) mua toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của tổ chức tín dụng khác (tổ chức tín dụng bị mua lại).
Sau khi mua lại, tổ chức tín dụng bị mua lại trở thành công ty trực thuộc của tổ chức tín dụng mua lại. Theo quy định của Luật các Tổ chức tín dụng Việt Nam 2010, ngân hàng thƣơng mại là một loại hình tổ chức tín dụng, cụ thể là một loại hình ngân hàng, theo đó, đƣợc phép thực hiện các hoạt động ngân hàng gồm huy động vốn, cấp tín dụng, cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản và các hoạt động khác nhằm mục tiêu lợi nhuận. Vì vậy, sáp nhập mua bán ngân hàng thƣơng mại chịu sự chi phối bởi văn bản pháp lý về việc sáp nhập, hợp nhất, mua lại tổ chức tín dụng. Tóm lại, dựa trên những định nghĩa khác nhau về mua bán, sáp nhập doanh nghiệp nói chung, mua bán, sáp nhập các tổ chức tín dụng nói riêng, có thể hiểu hoạt động mua bán sáp nhập ngân hàng là việc một ngân hàng giành quyền kiểm soát ngân hàng khác thông qua việc sở hữu toàn bộ hay một phần cổ phần của ngân hàng thƣơng mại đó.
Hoạt động mua bán, sáp nhập ngân hàng đƣợc chia thành 3 dạng là hợp nhất, sáp nhập và mua lại ngân hàng. Khi các ngân hàng cùng thỏa thuận về việc chia sẻ tài sản, thị phần, đồng thuận chấm dứt hoạt động để hình thành nên ngân hàng mới thì đƣợc gọi là hợp nhất ngân hàng. Sáp nhập ngân hàng là khi ngân hàng bị sáp nhập chuyển giao toàn bộ quyền và nghĩa vụ vào trong ngân hàng nhận sáp nhập, đồng thời ngân hàng bị sáp nhập chấm dứt hoạt động sau đó. Trƣờng hợp mua bán ngân hàng xảy ra khi một ngân hàng mua lại một ngân hàng thƣơng mại khác và dành quyền kiểm soát ngân hàng bị mua lại.2 Phân biệt sự khác nhau giữa mua bán và sáp nhập NHTM 1.
Sự khác nhau giữa mua bán và sáp nhập ngân hàng 3 Do thuật ngữ mua bán và sáp nhập thƣờng đi chung với nhau trong thuật ngữ “Merge and Acquisitions” nên thƣờng gây hiểu nhầm về sự giống nhau giữa hai thuật ngữ. Tuy nhiên, mua bán và sáp nhập là hai thuật ngữ khác nhau về bản chất. Hoạt động mua bán thƣờng mang tính chất thâu tóm, ép buộc khi một ngân hàng thực hiện việc mua lại tài sản, cổ phiếu của ngân hàng khác nhằm chiếm lấy vị trí chủ sở hữu và thực hiện “xóa sổ” ngân hàng bị mua lại. Hoạt động sáp nhập thƣờng do thƣờng diễn ra khi các bên tham gia thƣơng vụ thấy đƣợc triển vọng phát triển, cùng thống nhất cách làm việc, việc quản trị ngân hàng cũng nhƣ có sự chia sẻ hợp lý giữa các bên tham gia.
Trong đó, bên bị sáp nhập thƣờng tự nguyện nhập vào với bên nhận sáp nhập vì những thỏa thuận phát triển chung giữa các bên, nhằm bảo đảm lợi ích cao nhất cho các bên. Sự khác nhau giữa sáp nhập và hợp nhất NHTM Sáp nhập và hợp nhất ngân hàng có điểm khác biệt cơ bản chính là sự chấm dứt hay tồn tại của các chủ thể tham gia thƣơng vụ. Trong giao dịch sáp nhập, chỉ có bên bị sáp nhập chấm dứt tồn tại, “hòa” chung vào bên nhận sáp nhập, và bên nhận sáp nhập sẽ có tiếng nói mạnh hơn trong các quyết định chung. Đối với hợp nhất ngân hàng, các bên tham gia thƣờng hợp tác cao, đồng thuận cùng chấm dứt hoạt động để cho ra đời một pháp nhân hoàn toàn mới.
Cách thức thực hiện sáp nhập và hợp nhất cũng khác nhau. Ngân hàng bị sáp nhập buộc phải mang tài sản, quyền và nghĩa vụ cũng nhƣ lợi ích hợp pháp của mình gộp chung vào tài sản của ngân hàng nhận sáp nhập. Trong khi đó, các ngân hàng tham gia hợp nhất sẽ cùng mang toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và những lợi ích hợp pháp của mình góp chung lại với nhau trên tinh thần tự nguyện. Quyền quyết định trong sáp nhập và hợp nhất cũng khác nhau.
Thông thƣờng, các cổ đông của ngân hàng bị sáp nhập không có quyền quyết định và kiểm soát đối với ngân hàng nhận sáp nhập, đồng thời, ít có biến động trong ban lãnh đạo của ngân hàng nhận sáp nhập sau khi sáp nhập. Đối với hợp nhất, các ngân hàng tham gia thƣờng có quyền quyết định trong hội đồng quản trị theo tỷ lệ tham gia vốn của mỗi ngân hàng. Vì những lý do này, trong thực tế hình thức hợp nhất ít phổ biến hơn so với sáp nhập trong doanh nghiệp nói chung cũng nhƣ trong 4 ngành ngân hàng nói riêng.