Chương 1: Cơ sở lý luận về mở rộng tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ trong nền kinh tế Chương 2: Thực trạng mở rộng tín dụng với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Ngân hàng TMCP Quân Đội chỉ nhánh Sở giao dịch 1. Chương 3: Giải pháp nhằm mở rộng tín dụng đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Ngân hàng TMCP Quân Đội chỉ nhánh Sở giao dịch 1. CHUONG 1 CO SO LY LUAN VE MO RONG TIN DUNG DOI VOI DOANH NGHIEP VUA VA NHO TRONG NEN KINH TE 1. TONG QUAN VE DOANH NGHIEP VUA VA NHO 1.
Khái niệm doanh nghiệp vừa và nhỏ Để tìm hiểu thế nào là doanh nghiệp vừa và nhỏ, trước hết ta cần tìm hiểu thế nào là Doanh nghiệp. Tại Việt Nam, theo luật Doanh nghiệp 2014: “Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản riêng, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh”. Khái niệm doanh nghiệp vừa và nhỏ: Mỗi quốc gia đều có những điều kiện kinh tế xã hội khác nhau, và có những đặc điểm riêng biệt. Sự phân loại doanh nghiệp vì thế không thống nhất ở các quốc gia trên thế giới.
Khái niệm quy mô doanh nghiệp nói chung và khái niệm doanh nghiệp vừa và nhỏ nói riêng chỉ có ý nghĩa trong phạm vi lãnh thổ quốc gia, tại những thời điểm nhất định. Nhưng nhìn chung, việc xác định DNVVN chủ yếu căn cứ vào hai nhóm tiêu chí phổ biến là tiêu chí định tính và tiêu chí định lượng. Tiêu chí định tính: nhóm chỉ tiêu này dựa vào những đặc trưng cơ bản của doanh nghiệp như: trình độ chuyên môn hóa thấp, trình độ quản lý chưa chuyên nghiệp. Việc sử dụng tiêu chí này rất khó xác định một cách chính xác trên thực tế và mang nặng tính chủ quan bởi vậy mà nó mang tính tham khảo, ít được sử dụng trong thực tế.
Nhóm các tiêu chí định tính bao gồm: chuyên môn hóa thấp, mức độ quản lý chưa cao. Các yếu tố này phản ánh đúng bản chất vấn đề nhưng thường khó xác định, nó mang tính tham khảo, kiểm chứng, ít được sử dụng trong thực tế. Tiêu chí định lượng: Nhóm chỉ tiêu này phản ánh các chỉ tiêu định lượng được sử dụng độc lập hay kết hợp với nhau, bao gồm: số lao động định biên, giá trị tài sản, vốn kinh doanh, doanh thu, lợi nhuận. Mỗi nhóm tiêu chí này đều có những ưu và nhược điểm riêng nên tùy từng đặc điểm mỗi quốc gia sẽ sử dụng kết hợp các tiêu chí khác nhau để xác định doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Ở Việt Nam, DNVVN được định nghĩa và phân loại căn cứ vào tiêu chí tổng nguồn vốn hoặc số lao động theo Nghị định 56/2009/NĐ-CP ban hàng ngày 30/06/2009. Theo quy định tại Nghị định 56/2009, doanh nghiệp vừa và nhỏ được định nghĩa như sau: “Doanh nghiệp vừa và nhỏ là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguôn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên). Cụ thể: Quy mô|lDoanh nghiệp. Doanh nghiệp nhỏ Doanh nghiệp vừa siêu nhỏ : Tông nguôn| „ Tông nguôn |, Sô lao động : Sô lao động : So lao dong |Khu vực vôn vôn ll.
Nong, lam 7 š Từ trên 10 [Từ trên 20 tỷ| Từ trên 200 10 người trở | 20 tỷ đông ae `. „ Inghiệp và thủy. người đên |đông đên 100| người đến xuông trở xuông. ` : sản 200 người tỷ đông 300 người.
Từ trên 10 [Từ trên 20 tỷ| Từ trên 200 II. Công nghiệp | 10 người trở | 20 tỷ đông. người đên |đông đên 100| người đên à xây dựng xuông. trở xuông ` 200 người ty đông | 300 người ` Từ trên 10 [Từ trên 10 tỷ| Từ trên 50 II.
Thương mại| 10 người trở | 10 tỷ đông i : 5 ge _ P người đên 50| đông đến 50| người đên a dich vu xudng trở xuông. ngudi ty dong 100 người (Nguồn: Nghị định 56/2009/NĐ-CP) 1. Đặc điểm của doanh nghiệp vừa và nhỏ 1. Doanh nghiệp vừa và nhỏ có quy mô vẫn nhỏ DNVVN yêu cầu số vốn ban đầu không lớn.
Quy mô vốn và số lao động nhỏ là lợi thế trong việc thành lập doanh nghiệp dễ dàng, tuy nhiên cũng tạo ra nhiều khó khăn cho doanh nghiệp. Lao động bình quân trong doanh nghiệp đã giảm từ 49 lao động năm 2007 xuống chỉ còn 29 lao động năm 2015. Mặc dù chiếm đến 97% số lượng doanh nghiệp nhưng doanh nghiệp vừa và nhỏ chỉ chiếm chưa đầy 40% tổng nguồn vốn kinh doanh. Cũng vì quy mô vốn nhỏ, hoạt động còn nhiều rủi ro nên DNVVN ít khả năng tiếp cận nguồn vốn lớn ảnh hưởng đến khả năng phát triển của doanh nghiệp.
Chu kì sản xuất ngắn, thu hồi vốn nhanh, có tính linh hoạt cao Là doanh nghiệp có quy mô vừa phải nên việc đầu tư vốn sản xuất không quá lớn. Các doanh nghiệp này thường đầu tư vào những lĩnh vực có khả năng thu hồi vốn nhanh, giảm thiểu rủi ro do thời gian sản xuất ngắn. Chu kỳ sản xuất của các doanh nghiệp này thường ngắn, diễn biến theo mùa nên vòng quay của mỗi đồng vốn nhanh, hiệu quả. Quy mô không quá lớn, các DNVVN dễ dàng thay đổi loại hình kinh doanh để thích ứng với những biến đổi của thị trường.
Mặt khác, DNVVN tồn tại ở mọi loại hình kinh tế nên nó hoàn toàn có thể chuyển hướng sang các loại hình sản xuất cho phù hợp với nhu cầu thị trường. Tổ chức sản xuất, bộ máy quản lý gọn nhẹ, tiết kiệm chỉ phí Với số lượng lao động không nhiều, việc tổ chức bộ máy quản lý tương đối gọn nhẹ, không có nhiều các khâu trung gian. Điều này làm tăng hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, công tác kiểm tra, giám sát được tiến hành một cách nhanh chóng, thuận lợi, giúp tiết kiệm thời gian và chỉ phí cho doanh nghiệp. Trình độ quản lý và tay nghề người lao động còn hạn chế Do DNVVN đòi hỏi số lượng lao động không nhiều, điều này gây khó khăn cho doanh nghiệp khi muốn mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh.
Bên cạnh đó, DNVVN cũng khó tiếp cận nguồn lao động có chất lượng cao vì họ thường tìm đến các doanh nghiệp lớn. Ước tính có tới 75% lao động trong các DNVVN chưa qua đào tạo chuyên môn kỹ thuật. Về trình độ quản lý, đa số các chủ doanh nghiệp, ngay cả những người có trình độ học vấn từ cao đẳng và đại học trở lên cũng ít người được đào tạo về kiến thức kinh tế và quản trị doanh nghiệp, về pháp luật trong kinh doanh. điều này ảnh hưởng lớn đến việc hoạch định chiến lược phát triển, định hướng kinh doanh và quản lý.
phòng tránh các rủi ro pháp lý cho doanh nghiệp mình. Năng lực quản lý chưa cao, khó có khả năng thu hút những nhà quản lý và lao động có tay nghề, trình độ chuyên môn, vì vậy khó có được các chính sách quảng bá thương hiệu, các chiến lược phát triển kinh doanh và quản lý doanh nghiệp. Cơ sở vật chất kỹ thuật, trình độ thiết bị công nghệ thường yếu kém, lạc hậu Phần lớn các doanh nghiệp nhỏ và vừa vẫn sử dụng công nghệ lạc hậu so với mức trung bình của thế giới từ 2 đến 3 thế hệ. Thêm vào đó, số doanh nghiệp chú trọng, đầu tư cho khoa học - công nghệ hiện tại không nhiều.
Việc đổi mới công nghệ của các doanh nghiệp còn diễn ra chậm chạp. Do vốn nhỏ và trình độ hiểu biết hạn chế nên các DNVVN chỉ sử dụng các công nghệ trung bình, đơn giản nên năng suất lao động thấp, làm giảm khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp. Khả năng tiếp cận thông tin của các DNVVN cũng bị hạn chế nên các DNVVN cũng khó tiếp cận được những công nghệ thích hợp và hiệu quả, giúp cải tiến và nâng cao sức cạnh tranh cho doanh nghiệp mình. Vai trò của doanh nghiệp vừa và nhỏ trong nền kinh tế 1.
Các DNVVN có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế đất nước, tạo công ăn việc làm, gia tăng thu nhập cho người lao động, góp phân ốn định xã hội Đối với các nền kinh tế đang phát triển như ở Việt Nam, khu vực DNVVN là thành phần quan trọng của sự phát triển kinh tế và xóa đói, giảm nghèo, là yếu tố chủ chốt và bền vững tạo ra việc làm và thu nhập cho lao động ngoài khu vực nhà nước. Phân bố rộng khắp và không đòi hỏi nhân lực trình độ chuyên môn cao nên DNVVN có khả năng thu hút một số lượng lao động lớn, thông qua đó giải quyết các vấn đề xã hội và làm tăng thu nhập quốc dân. Với đặc thù kinh doanh nhỏ, không yêu cầu trình độ cao nên DNVVN góp phần giải quyết được nạn thất nghiệp ở vùng sâu vùng xa, vùng kinh tế khó khăn, tạo điều kiện nâng cao đời sống của người dân, ổn định xã hội. Các DNVVN giúp phát triển và sử dụng hiệu quả nguồn lực DNVVN sử dụng vốn ít, thành lập DNVVN thuận lợi dễ dàng, tạo điều kiện cho dân cư tham gia đầu tư góp vốn.
Như vậy, thông qua DNVVN những nguồn vốn nhỏ, tạm thời nhàn rỗi được sử dụng để sinh lời. Với mạng lưới phân bổ rộng khắp trên cả nước, có mặt ở khắp các địa phương, DNVVN có thể tận dụng mọi nguồn lực, mọi nguồn nguyên liệu kết hợp với tiềm năng về nguồn lực, thế mạnh của từng địa phương, từng vùng kinh tế. Bên cạnh đó, các DNVVN có thể tận dụng được nguồn lao động và nguyên liệu với giá rẻ, do đó làm giảm chỉ phí sản xuất, hạ giá thành sản phẩm, tạo lợi thế cạnh tranh cho các doanh nghiệp trong tiêu thụ sản phẩm. DNVVN là động lực thúc đẩy cạnh tranh và môi trường kinh doanh Khu vực DNVVN còn được coi là động lực thúc day cạnh tranh và môi trường.
kinh doanh bởi đây là khu vực nhạy bén, năng động và sẵn sàng đổi mới so với các doanh nghiệp lớn hơn và đã phát triển ồn định. Sự tồn tại của nhiều doanh nghiệp hoạt động trong các ngành, lĩnh vực sẽ làm giảm tính độc quyền và buộc các doanh nghiệp phải cạnh tranh với nhau, liên tục đổi mới, đa dạng hóa mặt hàng, giảm chi phi, tang chất lượng để tồn tại và phát triển, đáp ứng được nhu cầu của người tiêu dùng.