CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ MỞ RỘNG CHO VAY DOANH NGHIỆP CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. CHO VAY CỦA NHTM ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP 1. Khái niệm, đặc điểm và vai trò của doanh nghiệp a. Khái niệm doanh nghiệp Theo Luật Doanh nghiệp được ban hành ngày 29/11/2005 “Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động sản xuất kinh doanh” [7, trang 2], Và có thể phân loại các doanh nghiệp thành: + Công ty trách nhiệm hữu hạn là doanh nghiệp mà các thành viên trong công ty (có thể là một tổ chức hay một cá nhân đối với công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên) chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn điều lệ của công ty.
+ Công ty cổ phần là doanh nghiệp mà vốn điều lệ của công ty được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần. Cá nhân hay tổ chức sở hữu cổ phần của doanh nghiệp được gọi là cổ đông và chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác trong phạm vi số vốn đã góp vào DN. + Công ty hợp danh là doanh nghiệp trong đó có ít nhất hai thành viên là chủ sở hữu của công ty, cùng kinh doanh dưới một cái tên chung (gọi là thành viên hợp danh). Thành viên hợp danh phải là cá nhân và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về các nghĩa vụ của công ty.
Ngoài ra trong công ty hợp danh còn có các thành viên góp vốn. Luan van 7 + Doanh nghiệp tư nhân là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của DN. Mỗi cá nhân chỉ được quyền thành lập một doanh nghiệp tư nhân. + Nhóm công ty là tập hợp các công ty có mối quan hệ gắn bó lâu dài với nhau về lợi ích kinh tế, công nghệ, thị trường và các dịch vụ kinh doanh khác.
Nó gồm có các hình thức: công ty mẹ – công ty con, tập đoàn kinh tế. + Doanh nghiệp nhà nước là doanh nghiệp trong đó nhà nước sở hữu trên 50% vốn điều lệ. + Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là doanh nghiệp do nhà đầu tư nước ngoài thành lập để thực hiện hoạt động đầu tư tại Việt Nam hoặc doanh nghiệp Việt Nam do nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần, sáp nhập, mua lại. Đặc điểm của doanh nghiệp - Về phân bố doanh nghiệp giữa các vùng, miền, giữa các lĩnh vực ngành nghề không đều: Doanh nghiệp tập trung chủ yếu ở các tỉnh, Thành phố lớn như: Hà Nội, TP.Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Đà Nẵng, Bình Dương, Đồng Nai… Đây là những khu vực kinh tế trọng điểm của cả nước, là những nơi đông dân với mức thu nhập khá cao.
Đối với những vùng như khu vực Tây bắc, Tây nguyên và Đồng bằng Sông Cữu Long, doanh nghiệp tập trung chủ yếu là doanh nghiệp nhỏ và vừa, hoạt động mang tính riêng rẽ không có sự gắn kết giữa các doanh nghiệp với nhau để hỗ trợ cùng phát triển. + Hoạt động của doanh nghiệp tập trung chủ yếu vào các ngành công nghiệp sản xuất chế biến và thương mại dịch vụ có đặc điểm luân chuyển dòng vốn nhanh, liên tục, là những ngành đang có xu hướng phát triển mạnh phù hợp với nền kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay. Việc phát triển ngành nghề, lĩnh vực hoạt động của doanh nghiệp mang tính tự phát, không theo quy Luan van 8 hoạt nên dễ xẩy ra hiện tượng các doanh nghiệp cùng đầu tư vào một số lĩnh vực quá nhiều gây bảo hòa thị trường như Bất động sản… - Về năng lực sản xuất và khả năng quản lý: Phần lớn các doanh nghiệp trong nước (trừ các doanh nghiệp Nhà nước, Ngân hàng cổ phần) là doanh nghiệp nhỏ và vừa, nguồn vốn đầu tư thấp, quy mô hoạt động nhỏ, phạm vi hoạt động hẹp và chủ yếu cung cấp các sản phẩm thiết yếu cho nhu cầu tiêu dùng trong nước, khả năng cạnh tranh trên thị trường thấp, đặc biệt là canh tranh với các đối tác nước ngoài. Trang thiết bị phục vụ sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp Việt Nam lạc hậu, thiết bị đã qua sử dụng với chi phí đầu tư thấp nên sản phẩm làm ra không đáp ứng theo chuẩn quốc tế, khả năng cạnh tranh của sản phẩm thấp, hiệu quả kinh doanh không cao.
+ Về khả năng quản lý: các doanh phát triển mang tính tự phát, đặc biệt là doanh nghiệp ngoài quốc doanh, nhiều doanh nghiệp được thành lập trên cơ sở là một hộ sản xuất, một cơ sở kinh doanh… phần lớn người đại diện những hộ sản xuất, cơ sở kinh doanh không được đào tạo bài bản về kiến thức phổ thông, kiến thức tổ chức sản xuất và kiến thức quản lý nên khi phát triển thành DN nên những người này không đủ khả năng để quản lý, tổ chức hoạt động của doanh nghiệp và việc thuê chuyên gia sẽ gây tốn kém cho hoạt động của DN. Mặt khác năng lực quản lý thể hiện qua sự kết nối, tìm hiểu, phát triển thị trường của các DN, thông qua sự kiên kết sẽ tạo nên sức mạnh cho hoạt động của DN trên thị trường. - Về thông tin: doanh nghiệp Việt Nam rất ít thông tin về các lĩnh vực đang hoạt động (thông tin về sản phẩm, đối thủ cạnh tranh, giá cả hàng hoá…) trừ một số ít các DN có quy mô lớn, các doanh nghiệp có hoạt động xuất khẩu. Do thiếu thông tin nên hoạt động của DN chỉ giới hạn trong phạm vi hẹp, trong một địa bàn nhất định, khả năng cạnh tranh của sản phẩm bị giới Luan van 9 hạn, không có sự liên kết hỗ trợ giữa các doanh nghiệp với nhau.
Thiếu thông tin nên DN không lường đón hết những rủi ro, tác động từ thị trường như: nhu cầu thị trường, thông tin giá cả, thông tin về chất lượng, kiểu dáng…. - Nhận thức của chủ doanh nghiệp về vấn đề hợp tác: rất nhiều chủ doanh nghiệp luôn có ý chí cầu tiến, mong muốn được quan hệ kinh doanh với các doanh nghiệp lớn, doanh nghiệp nước ngoài, họ coi đó là mục tiêu phấn đấu cho doanh nghiệp mình và cũng là cách để họ học hỏi, tiếp cận được nhiều điều từ các doanh nghiệp của một nền kinh tế phát triển. Mặt khác, họ muốn khẳng định mình khi được hợp tác với các doanh nghiệp lớn, doanh nghiệp ở các nước phát triển, vì qua đó họ nâng tầm quản lý, nâng quy mô kinh doanh và nâng uy tín của mình thông qua hợp tác. Nhiều doanh nghiệp có nhận thức rất kém về vấn đề hợp tác, đó là các doanh nghiệp có quy mô sản xuất nhỏ và có ý định tự làm ra sản phẩm của riêng mình, hoặc các doanh nghiệp thỏa mãn, hài lòng với kết quả sản xuất kinh doanh mình đang có và không có ý định liên kết với các doanh nghiệp lớn hơn trong tương lai.
Điều này đi ngược với xu thế hội nhập khi mà các doanh nghiệp cần có sự liên kết hỗ trợ, doanh nghiệp nhỏ dựa vào doanh nghiệp lớn để cùng tồn tại. - Về sản phẩm: các doanh nghiệp Việt nam hoạt động mang tính tự phát, không chủ động xây dựng kế hoạch sản xuất kinh doanh dài hạn, kế hoạch thường được lập và thực hiện trong một thời gian ngắn (thường là một năm) nên hoạt động DN và sản phẩm DN làm ra không theo quy hoạch, không dựa vào nhu cầu thị trường. Nguyên nhân chính là do doanh nghiệp có quy mô nhỏ sản xuất nhỏ, chưa chuyên môn hóa nên bất kể lĩnh vực nào tạo ra doanh thu thì thực hiện đầu tư hoạt động. Chính điều này đã khiến các doanh nghiệp Việt Nam không chủ động kế hoạch sản xuất dẫn đến doanh thu không ổn định.
Nguyên nhân này cũng dẫn đến việc các doanh nghiệp Luan van 10 Việt Nam thường xuyên bị chiếm dụng vốn từ phía khách hàng do thực hiện các hợp đồng thời vụ. Điểm này cũng khác biệt nếu khách hàng là các doanh nghiệp các nước phát triển có kế hoạch tài chính định trước hàng năm và thanh toán định kỳ hàng tháng. Một số DN có quy mô đầu tư lớn với dây chuyền sản xuất hiện đại. Tuy nhiên các sản phẩm đó lại có các công ty nước ngoài tại Việt Nam đang cung cấp cho thị trường của nước họ.
Tất nhiên sẽ rất khó cho các doanh nghiệp Việt Nam nếu có ý tưởng cung cấp trực tiếp sản phẩm cùng loại. - Kiểm tra chất lượng sản phẩm: trong khi yêu cầu đầu tiên của thị trường là chất lượng của sản phẩm thì đây lại là vấn đề hầu như các doanh nghiệp Việt Nam không chú trọng, phần lớn các sản phẩm đó được làm lại theo sản phẩm mẫu. Do đầu tư cho các thiết bị kiểm tra và đo lường là rất tốn kém, trong khi tần suất sử dụng lại ít nên các doanh nghiệp Việt Nam hầu như không có những thiết bị này. Thậm chí các nguyên vật liệu đầu vào của doanh nghiệp cũng không được kiểm soát.
Hơn nữa cách suy nghĩ của doanh nghiệp Việt Nam là chỉ chú trọng đến giá trị hữu hình như số lượng và giá bán của sản phẩm, trong khi chất lượng sản phẩm lại chưa được quan tâm đúng mức. Nhưng chất lượng sản phẩm lại là yếu tố quyết định đến uy tín và thương hiệu của doanh nghiệp. Vai trò của doanh nghiệp - Một là: doanh nghiệp là bộ phận trong nền kinh tế có đóng góp lớn vào tổng sản phẩm quốc nội (GDP), góp phần giải quyết công ăn việc làm và ổn định kinh tế xã hội. Theo thống kê, năm 2011 các DN tại Việt Nam đóng góp trên 80% vào GDP (khối doanh nghiệp Nhà nước đóng góp khoảng 40% GDP) và giải quyết trên 50% lao động trong nước, đặc biệt là khối doanh nghiệp ngoài quốc doanh, do phần lớn được phát triển từ hình thức kinh tế hộ gia đình, với các loại hình thu hút được nhiều lao động phổ thông, bao gồm Luan van 11 lao động nhàn rỗi ở nông thôn, lao động qua đào tạo dạy nghề nhiều cấp bậc và một bộ phận lao động có trình độ cao.
Với biên độ về trình độ lao động lớn như vậy, các DN góp phần giải quyết vấn đề công ăn việc làm triệt để hơn, giúp nâng cao hiệu quả xã hội, thực hiện các chính sách vĩ mô về việc làm và phát triển kinh tế.