CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ MỞ RỘNG TÍN DỤNG BẤT ĐỘNG SẢN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Cơ sở lý luận về bất động sản và thị trường bất động sản 1. Lý luận về bất động sản 1. Khái niệm bất động sản Thị trường BĐS là một bộ phận quan trọng của nền kinh tế, liên quan trực tiếp tới một lượng tài sản lớn kể cả về quy mô, tính chất cũng như giá trị trong nền kinh tế quốc dân.
Tỷ trọng BĐS trong tổng số của cải xã hội không đồng nhất ở các quốc gia khác nhau nhưng thường chiếm trên dưới 40% tổng lượng của cải vật chất (Tạ Thanh Huyền, 2019). Việc phân loại tài sản thành bất động sản và động sản có nguồn gốc từ Luật cổ La Mã, theo đó bất động sản không chỉ là đất đai, của cải trong lòng đất mà còn là tất cả những gì được tạo ra do sức lao động của con người trên mảnh đất. Bất động sản bao gồm các công trình xây dựng, mùa màng, cây trồng… và tất cả những gì liên quan đến đất đai hay gắn liền với đất đai, những vật trên mặt đất cùng với những bộ phận cấu thành lãnh thổ (Cục quản lý nhà - Bộ xây dựng, 2008). Theo điều 107 của bộ Luật Dân Sự Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam (2015), bất động sản bao gồm: đất đai; nhà, công trình xây dựng gắn liền với đất đai; tài sản khác gắn liền với đất đai, nhà, công trình xây dựng; tài sản khác theo quy định của pháp luật.
Phân loại bất động sản Từ kinh nghiệm của nhiều nước và kết quả nghiên cứu ở nước ta, BĐS có thể phân thành ba loại là: BĐS có đầu tư xây dựng, BĐS không đầu tư xây dựng và BĐS sản đặc biệt (Cục quản lý nhà - Bộ xây dựng, 2008). Bất động sản có đầu tư xây dựng gồm: BĐS nhà đất, BĐS nhà xưởng và công trình thương mại – dịch vụ, BĐS hạ tầng (hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội), BĐS là trụ sở làm việc,. Trong đó, BĐS nhà đất (bao gồm đất đai và các tài sản gắn liền với đất đai) là nhóm BĐS cơ bản, chiếm tỷ trọng rất lớn, tính chất phức tạp cao và chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố chủ quan, khách quan. Nhóm BĐS này có tác động rất lớn đến quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước cũng như phát triển đô thị bền vững.
12 Nhưng quan trọng hơn là nhóm BĐS này chiếm tuyệt đại đa số các giao dịch trên thị trường BĐS ở nước ta cũng như các nước trên thế giới. Bất động sản không đầu tư xây dựng: BĐS thuộc loại này chủ yếu là đất nông nghiệp (dưới dạng tư liệu sản xuất) bao gồm các loại đất nông nghiệp, đất rừng, đất nuôi trồng thủy sản, đất làm muối, đất hiếm, đất chưa sử dụng,. Bất động sản đặc biệt: các công trình bảo tồn quốc gia, di sản văn hóa vật thể, nhà thờ họ, đình chùa, miếu mạo, nghĩa trang,. Đặc điểm của loại BĐS này là khả năng tham gia thị trường rất thấp.
Đặc điểm bất động sản Tính khan hiếm: Thể hiện thông qua đặc tính của đất đai. Đây là sự giới hạn về diện tích đất đại của từng khu vực, vùng lãnh thổ. Đồng thời thì dân số thế giới ngày càng tăng và quá trình đô thị hóa ngày càng phát triển khiến nguồn cung đất đai ngày càng ít trong khi quỹ đất không thể sinh sôi, nảy nở. Vì vậy, vô hình chung đã tác động lên khiến đất đai ngày càng khan hiếm.
Tính cá biệt: Mỗi bất động sản đều có một đặc điểm riêng biệt chẳng hạn như hình thù, vị trí, không gian khác nhau mặc dù chúng nằm trong một khu vực. Đây cũng là một trong những yếu tố quan trọng thu hút được vốn đầu tư của bất động sản Tính lâu bền: trong cùng một khu vực, nếu có hai bất động sản nằm cạnh nhau thì chúng sẽ có những đặc điểm khác nhau. Chẳng hạn như vị trí, không gian, khu vực tiếp xúc khác nhau dù chúng cùng nằm trong một khu vực. Tính tác động lẫn nhau: Tại một khu vực khi được rót vốn đầu tư nhiều để nâng cấp, xây dựng các công trình cơ sở hạ tầng sẽ làm tăng vẻ đẹp và gia tăng giá trị kinh tế, thu hút nguồn vốn đầu tư Mang yếu tố tập quán, thị hiếu xã hội: Nhu cầu về bất động sản tại mỗi vùng, mỗi quốc gia, mỗi khu vực đều rất khác nhau, phụ thuộc rất nhiều vào thị hiếu, tập quán sinh sống của người dân tại khu vực đó.
Đồng thời thì các yếu tố về tín ngưỡng tôn giáo cũng chi phối nhu cầu và hình thức của bất động sản. Lý luận chung về thị trường bất động sản Chúng ta có thể hiểu thị trường bất động sản một cách tổng quát như sau: Thị trường 13 bất động sản là hệ thống các quan hệ kinh tế trong các ngành tạo lập bất động sản, các thể chế hỗ trợ thị trường và toàn bộ các hoạt động liên quan đến việc giao dịch bất động sản (Bourne và cộng sự, 1978). Bất đô ̣ng sản có những đă ̣c trưng riêng biê ̣t như sau: Tính không đồng nhất: Mỗi đơn vị bất động sản là duy nhất về vị trí, tọa độ và cố định theo thời gian. Điều này làm cho việc định giá trở nên khó khăn, tăng chi phí tìm kiếm, tạo ra sự bất cân xứng thông tin và hạn chế đáng kể khả năng thay thế (Muth, 1960).
Chi phí giao dịch cao: Mua hoặc chuyển đến ở trong nhà tốn kém hơn nhiều so với hầu hết các loại giao dịch. Các chi phí bao gồm chi phí tìm kiếm, phí bất động sản, chi phí di chuyển, phí pháp lý, thuế chuyển nhượng đất và phí đăng ký chứng thư (Olsen, 1969). Sự trì hoãn kéo dài: Quá trình điều chỉnh thị trường có thể bị chậm trễ về thời gian do thời gian cần thiết để cung cấp vốn, thiết kế và xây dựng nguồn cung mới cũng như do tốc độ thay đổi của cầu tương đối chậm. Bởi vì những độ trễ này, có khả năng mất cân bằng trong ngắn hạn là rất lớn (Muth, 1960).
Cơ sở lý luận về tín dụng bất động sản 1. Khái niệm cấp tín dụng bất động sản tại ngân hàng thương mại Theo Wayne và cộng sự (2002), tín dụng BĐS là quan hệ tín dụng giữa ngân hàng với khách hàng (thể nhân hoặc pháp nhân) liên quan đến lĩnh vực BĐS. Bên cạnh đó, tín dụng BĐS là loại hình tín dụng của NHTM trong đó ngân hàng cấp cho bên vay một số vốn để thực hiện các mục đích liên quan đến BĐS bao gồm: mua nhà; mua đất; xây dựng nhà ở, nhà xưởng, văn phòng, cao ốc cho thuê; sửa chữa nhà ở; đầu tư kinh doanh BĐS, xây dựng nhà để bán. Khi đến hạn bên vay phải hoàn trả vốn gốc và tiền lãi cho bên cho vay là ngân hàng.
Như vậy, tín dụng ngân hàng đối với lĩnh vực BĐS bao gồm cả hai hình thức vừa đáp ứng nhu cầu đầu tư kinh doanh BĐS của nhà đầu tư, vừa đáp ứng nhu cầu nhà ở của người dân. Trong thực tế, tín dụng BĐS bao gồm đa dạng các nghiệp vụ ngân hàng bao gồm cho vay BĐS, phát hành bảo lãnh cho người mua nhà và các nghiệp vụ bảo lãnh khác. Trong phạm vi bài nghiên cứu này thì tín dụng BĐS được hiểu là các hoạt động cho vay BĐS cho khách hàng tổ chức và cá nhân vì đây là hoạt động chính, chiếm phần lớn trong nghiệp vụ tín dụng liên quan đến BĐS. Xuất phát từ vai trò quan trọng của thị trường BĐS đối với nền kinh tế, đối với xã hội mà việc cho 14 vay hay cấp vốn ở mức vừa phải để kích thích thị trường BĐS phát triển là điều cần thiết, trong đó điều tiết vốn thông qua kênh tín dụng ngân hàng với các sản phẩm cho vay BĐS được xem là hữu hiệu và khá phổ biến hiện nay ở một số nước.
Theo đó, cho vay BĐS là việc các NHTM cho vay khách hàng với mục đích sử dụng vốn liên quan đến BĐS như: đầu tư kinh doanh BĐS, xây dựng văn phòng, nhà xưởng, mua nhà để ở, xây dựng sửa chữa nhà để ở,. Theo khoản 14, điều 4, Luật các TCTD (2010), “cấp tín dụng” là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác. Theo Blasko và cộng sự (2006), căn cứ vào các sản phẩm dịch vụ hiện có trên thị trường BĐS hiện nay thì hoạt động tín dụng BĐS có thể được phân loại theo một số loại hình chính. Hoạt động cấp tín dụng BĐS hiện nay của các TCTD chủ yếu hỗ trợ vốn, góp phần phát triển thị trường BĐS, nhằm 3 mục tiêu chính sau: Thứ nhất, cho vay mục đích kinh doanh BĐS, mục tiêu này chủ yếu tài trợ vốn cho các tổ chức xây dựng văn phòng, cao ốc cho thuê, xây dựng nhà ở, căn hộ để bán, xây dựng các trung tâm thương mại,.
Thứ hai, cho vay mục đích phục vụ sản xuất mà chủ yếu là tài trợ vốn cho các doanh nghiệp trong việc xây dựng mở rộng nhà xưởng sản xuất, xây dựng cơ sở làm việc, nhà xưởng nhằm ổn định sản xuất thay vì tốn chi phí đi thuê. Thứ ba, cho vay mục đích phục vụ nhu cầu tiêu dùng về nhà ở, đất ở cho người dân. Đây chính là mục tiêu chính hiện nay mà các ngân hàng đang hướng tới. Mục tiêu này đáp ứng nhu cầu xây dựng, sửa chữa, mua nhà, mua đất để ở đối với các cá nhân, hộ gia đình.
Các nhu cầu này là thiết yếu của người dân để ổn định cuộc sống, an cư lạc nghiệp. Mỗi TCTD sẽ có cách tiếp cận khác nhau trong hoạt động cấp tín dụng BĐS, tùy 15 vào định hướng và chiến lược phát triển, khả năng cạnh tranh và sự sáng tạo trong khuôn khổ luật định về nghiệp vụ cho vay BĐS của mình. Phân loại tín dụng bất động sản Đối tượng cho vay bất động sản rất đa dạng, từ cá nhân, hộ gia đình đến các công ty đầu tư kinh doanh bất động sản. Các đối tượng khác nhau sẽ có những mục đích sử dụng vốn vay bất động sản khác nhau.
Có nhiều cách để phân loại cho vay bất động sản.