chương 1: Cơ sở lý luận về mở rộng cho vay Hộ sản xuất trong các Ngân hàng Thương mại. Tác giả đã tham khảo và trích dẫn từ một số nguồn tài liệu trong các đề tài trên, từ sách giáo trình giảng dạy nhƣ TS.Hồ Diệu (2002), Tín dụng ngân hàng, Nxb Thống kê, TP Hồ Chí Minh; Giáo trình của GS.Lê Văn Tƣ (2004), Ngân hàng Thương mại, Nxb Tài chính, TP Hồ Chí Minh. Nội dung chương 2: Thực trạng mở rộng cho vay Hộ sản xuất tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Huyện An Nhơn. Để thực hiện nghiên cứu thực trạng mở rộng cho vay Hộ sản xuất tại NHNo&PTNT Huyện An Nhơn, tác giả đã đi sâu nghiên cứu phân tích số liệu tình hình cho vay Hộ sản xuất và thực trạng mở rộng cho vay Hộ sản xuất tại đơn vị trong thời gian qua dựa trên số liệu từ các năm 2009-2011, tác giả sử dụng phƣơng pháp tổng hợp để phân tích, so sánh các số liệu từ đó đƣa ra đánh giá nhận xét.
Tác giả sẽ đi sâu phân tích đánh giá những kết quả đạt đƣợc, một số hạn chế, nguyên nhân của những hạn chế để làm cơ sở cho việc hoàn thiện mở rộng cho vay Hộ sản xuất tại Chi nhánh. Nội dung chương 3: Giải pháp mở rộng cho vay Hộ sản xuất tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Huyện An Nhơn. Dựa trên cơ sở lý luận về mở rộng cho vay Hộ sản xuất nêu trong chƣơng một và những tồn tại, nguyên nhân của những tồn tại trong việc mở rộng cho vay đối với Hộ sản xuất tại NHNo&PTNT Huyên An Nhơn trong chƣơng hai, trong chƣơng này tác giả sẽ đƣa ra những giải pháp mang tính định hƣớng với mục đích nhằm hoàn thiện việc mở rộng cho vay đối với Hộ Luan van 7 sản xuất tại NHNo&PTNT Huyện An Nhơn trong thời gian tới, với mục tiêu: mở rộng đƣợc đối tƣợng cho vay, phƣơng thức cho vay, lĩnh vực cho vay, địa bàn cho vay nhằm đáp ứng nhu cầu vốn kịp thời cho các Hộ sản xuất phát triển sản xuất kinh doanh trên cơ sở đảm bảo đủ điều kiện vay vốn, tại Chi nhánh mở rộng cho vay có chất lƣợng đảm bảo kiểm soát đƣợc rủi ro , giảm thiểu nợ xấu xảy ra.góp phần làm tăng doanh thu và lợi nhuận, nâng cao hiệu quả kinh doanh. Tất cả những nội dung trên đƣợc trình bày trong các chƣơng sau.
Luan van 8 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ MỞ RỘNG CHO VAY HỘ SẢN XUẤT TRONG CÁC NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI. HỘ SẢN XUẤT VÀ VAI TRÒ CỦA HỘ SẢN XUẤT ĐỐI VỚI NỀN KINH TẾ. Khái niệm và đặc điểm hộ sản xuất. Khái niệm Hộ sản xuất.
Hộ sản xuất xác định là một đơn vị kinh tế tự chủ, đƣợc Nhà nƣớc giao đất quản lý và sử dụng vào sản xuất kinh doanh và đƣợc phép kinh doanh trên một số lĩnh vực nhất định do Nhà nƣớc quy định. Trƣớc đây, có một số khái niệm rằng: Hộ sản xuất là một đơn vị kinh tế mà các thành viên đều dựa trên cơ sở kinh tế chung, các nguồn thu nhập do các thành viên cùng tạo ra và cùng sử dụng chung. Quá trình sản xuất của hộ đƣợc tiến hành một cách độc lập và điều quan trọng là các thành viên của hộ thƣờng có cùng huyết thống, thƣờng cùng chung một ngôi nhà, có quan hệ chung với nhau, hộ cũng là một đơn vị để tổ chức lao động. Qua khái niệm trên, có thể nhận thấy rằng: Hộ sản xuất là một lực lƣợng sản xuất to lớn ở nông thôn.
Hộ sản xuất hoạt động trong nhiều ngành nghề nhƣng hiện nay phần lớn hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp và phát triển nông thôn. Các hộ này tiến hành sản xuất kinh doanh đa dạng kết hợp trồng trọt với chăn nuôi và kinh doanh ngành nghề phụ. Đặc điểm sản xuất kinh doanh nhiều ngành nghề nói trên đã góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của các hộ sản xuất ở nƣớc ta.Đặc điểm hộ sản xuất. Hộ sản xuất đƣợc hình thành theo những đặc điểm tự nhiên, rất đa dạng.
Tùy thuộc vào hình thức sinh hoạt ở mỗi vùng và địa phƣơng mà hộ hình thành một kiểu cách sản xuất, cách tổ chức riêng trong phạm vi gia đình. Luan van 9 Trong mô hình sản xuất chủ hộ cũng là ngƣời lao động trực tiếp, làm việc có trách nhiệm và hoàn toàn tự giác. Sản xuất của hộ khá ổn định, vốn luân chuyển chậm so với các ngành khác. Một đặc điểm nữa của kinh tế hộ sản xuất là việc tiến hành sản xuất kinh doanh đa năng.
Đối tƣợng sản xuất phát triển hết sức phức tạp và đa dạng, chi phí sản xuất thƣờng thấp, vốn đầu tƣ có thể rải đều trong quá trình sản xuất của hộ mang tính thời vụ, cùng một lúc có thể kinh doanh sản xuất nhiều loại cây trồng, vật nuôi hoặc tiến hành các ngành nghề khác lúc nhàn rỗi, vì vậy thu nhập cũng rải đều, đó là yếu tố quan trọng tạo điều kiện cho kinh tế hộ phát triển toàn diện. Sự đa dạng ngành nghề sản xuất ở một góc độ nào đó cũng là sự hỗ trợ cần thiết để kinh tế hộ sản xuất có hiệu quả. Hộ sản xuất ở nƣớc ta vẫn còn đang trong tình trạng sản xuất nhỏ, manh mún, sản xuất theo kiểu truyền thống, hiệu quả sản xuất thấp. Hộ có sức lao động, có các điều kiện về đất đai, mặt nƣớc nhƣng thiếu vốn, thiếu hiểu biết về khoa học, kỹ thuật, thiếu kiến thức về thị trƣờng nên sản xuất kinh doanh còn mang nặng tính tự cấp, tự túc.
Nếu không có sự hỗ trợ của Nhà nƣớc về cơ chế chính sách, về vốn thì kinh tế hộ không thể chuyển sang sản xuất hàng hóa, không thể tiếp cận với cơ chế thị trƣờng.Vai trò hộ sản xuất trong phát triển kinh tế. Hộ sản xuất đóng vai trò rất quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lao động, giải quyết việc làm ở nông thôn và sử dụng tài nguyên ở nông thôn: Với 80% dân số sống ở nông thôn thì việc làm là một trong những vấn đề cấp bách đối với toàn xã hội nói chung và đặc biệt là nông thôn hiện nay nói riêng, hầu hết đội ngũ lao động hiện nay tập trung ở nông thôn nên vấn đề sử dụng khai thác số lao động này là vấn đề cốt lõi cần đƣợc quan tâm giải quyết. Từ khi đƣợc công nhận hộ gia đình là một đơn vị kinh tế tự chủ, đồng thời với việc nhà nƣớc giao đất, giao rừng và việc cổ phần hóa Luan van 10 trong doanh nghiệp, hợp tác xã đã làm cơ sở cho mỗi hộ gia đình sử dụng hợp lý và có hiệu quả nhất nguồn lao động sẵn có của mình. Đồng thời chính sách này đã tạo đà cho một số hộ sản xuất, kinh doanh trong nông thôn tự vƣơn lên mở rộng sản xuất thành các mô hình kinh tế trang trại, tổ hợp tác xã thu hút sức lao động, tạo công ăn việc làm cho lực lƣợng lao động dƣ thừa ở nông thôn.
Mặt khác, Hộ sản xuất còn hoạt động theo cơ chế thị trƣờng, thúc đẩy sản xuất hàng hóa phát triển. Đúng vậy, ngày nay, hộ sản xuất đang hoạt động theo cơ chế thị trƣờng có sự tự do cạnh tranh trong sản xuất hàng hóa, là đơn vị kinh tế độc lập, tự chủ, các hộ sản xuất phải quyết định mục tiêu sản xuất kinh doanh của mình là nên sản xuất cái gì ? Sản xuất cho ai ? Sản xuất nhƣ thế nào ? để trực tiếp quan hệ với thị trƣờng. Để đạt đƣợc điều này các hộ sản xuất đều phải không ngừng nâng cao chất lƣợng, mẫu mã sản phẩm cho phù hợp với nhu cầu và một số biện pháp khác để kích thích cầu, từ đó mở rộng sản xuất đồng thời đạt đƣợc hiệu quả kinh tế cao nhất. Ngoài ra, Hộ sản xuất hoạt động với quy mô nhỏ, bộ máy quản lý ngọn nhẹ, năng động nên có thể dễ dàng đáp ứng đƣợc những thay đổi của nhu cầu thị trƣờng mà không sợ tốn kém về mặt chi phí.
Thêm vào đó lại đƣợc Đảng và Nhà nƣớc có các chính sách khuyến khích tạo điều kiện để hộ sản xuất phát triển. Nhƣ vậy, với khả năng nhạy bén trƣớc nhu cầu thị trƣờng, hộ sản xuất đã góp phần đáp ứng đầy đủ nhu cầu ngày càng cao của thị trƣờng tạo ra động lực thúc đẩy sản xuất hàng hóa phát triển cao hơn. Từ sự phân tích trên ta thấy kinh tế hộ là thành phần kinh tế không thể thiếu đƣợc trong quá trình công nghiệp hóa-hiện đại hóa đất nƣớc. Kinh tế hộ phát triển góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế trong cả nƣớc nói chung, kinh tế nông thôn nói riêng và cũng từ đó góp phần tăng nguồn thu ngân sách địa phƣơng cũng nhƣ ngân sách nhà nƣớc.
HOẠT ĐỘNG CHO VAY HỘ SẢN XUẤT TRONG CÁC NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI. Ngân hàng Thƣơng mại và hoạt động cho vay của NHTM. Ngân hàng Thương mại. Ngân hàng Thƣơng mại là một loại hình tổ chức Tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất – đặc biệt là về tín dụng, tiền gửi, kinh doanh tiền tệ và thanh toán và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế.
Hiện nay chúng ta đang có hai quan niệm về ngân hàng và hai cách tiếp cận khác nhau: Một là, quan niệm ngân hàng một cách truyền thống đƣợc hiểu kinh doanh ngân hàng bó hẹp ở các hoạt động nhận gửi, cho vay và cung cấp các dịch vụ thanh toán. Quan niệm ngân hàng truyền thống với cách tiếp cận từ phía ngân hàng bao gồm các nghiệp vụ : nghiệp vụ huy động vốn, nghiệp vụ cho vay, nghiệp vụ thanh toán, theo đó việc quản lý cũng dựa vào cách quản lý theo các nghiệp vụ. Hai là, quan niệm ngân hàng ngày nay (ngân hàng hiện đại) ngân hàng là một bách hoá hoặc siêu thị tài chính với hàng trăm, hàng nghìn sản phẩm dịch vụ khác nhau trong đó có ngày càng nhiều hơn các sản phẩm dịch vụ hiện đại ra đời bên cạnh các sản phẩm dịch vụ truyền thống. Quan niệm về ngân hàng hiện đại đƣợc tiếp cận và nhìn nhận từ phía khách hàng.
Khách hàng sẽ quan tâm tới việc họ sẽ đƣợc ngân hàng phục vụ những sản phẩm dịch vụ nào với những đặc tính riêng biệt mà không quan tâm nhiều tới các nghiệp vụ ngân hàng.