CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ MỞ RỘNG CHO VAY DOANH NGHIỆP CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 TỔNG QUAN VỀ CHO VAY DOANH NGHIỆP CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 Khái niệm doanh nghiệp Về khái niệm Doanh nghiệp, Luật Doanh nghiệp năm 1999 và được sửa đổi năm 2005 do Quốc hội Việt Nam khóa XI thông qua đã quy định rõ: “Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng kí kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh”. [7] Trong Luật này cũng quy định về các loại hình doanh nghiệp bao gồm: Công ty TNHH, công ty cổ phần, công ty hợp danh và doanh nghiệp tư nhân. Cách phân chia này dựa trên căn cứ về hình thức sở hữu, tạo điều kiện thuận lợi cho Nhà nước trong quản lý hành chính và điều chỉnh các chính sách vĩ mô nhằm phát triển nền kinh tế thị trường với các thành phần kinh tế cân đối hơn. Việc thành lập, tổ chức quản lý, và hoạt động của các loại hình DN này đều được pháp luật quy định rõ.
Mặt khác, để tạo thuận lợi cho việc hỗ trợ các DN phát triển, người ta thường chia các loại hình DN dựa theo tiêu thức về quy mô. Theo tiêu thức này, DN được chia thành DN lớn và DNNVV. Các tiêu chí đánh giá quy mô của một DN bao gồm chỉ tiêu về vốn, doanh thu, lao động,…Mỗi quốc gia, mỗi khu vực có thể lựa chọn một chỉ tiêu hoặc một nhóm các chỉ tiêu khác nhau, tùy thuộc vào điều kiện, trình độ phát triển và quan điểm riêng của mỗi nước. Việc đưa ra được tiêu chí xác định phù hợp là rất quan trọng nhằm xây dựng chính sách hỗ trợ và định hướng phát triển đối với các DN đúng đắn và hợp lí hơn.2 Quan niệm cho vay doanh nghiệp Hoạt động cơ bản và chủ yếu của ngân hàng thương mại là huy động tiền gửi và cung cấp các hoạt động tín dụng.
Tín dụng ngân hàng được hiểu là quan hệ vay mượn giữa ngân hàng và khách hàng. Hoạt động tín dụng là hoạt động đa dạng, mang nhiều lợi nhuận nhưng cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro của ngân hàng. Trong các nghiệp vụ tín dụng, nghiệp vụ cho vay là nghiệp vụ giữ vị trí quan trọng nhất. Nhờ những khoản cho vay này, nhiều doanh nghiệp đã có điều kiện để phát triển sản xuất, tạo công ăn việc làm góp phần đóng góp vào GDP của đất nước.
Ngân hàng thương mại có thể tiến hành cho vay với nhiều đối tượng khách hàng như các cá nhân, các DN…Tuy nhiên, tùy theo đối tượng vay vốn, khái niệm cho vay có thể được hiểu theo những khía cạnh khác nhau. Hiện nay, trong các đối tượng cho vay của NHTM, DN là đối tượng khách hàng có nhiều tiềm năng. Đây là đối tượng không chỉ gia tăng ngày càng lớn về số lượng mà còn có những đóng góp cho sự phát triển kinh tế và tăng thu nhập dân cư. Theo quyết định 1627-2001-QĐ-NHNN về quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng thì việc cho vay đuợc định nghĩa như sau: “Cho vay là một hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng chuyển cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời gian nhất định theo thoả thuận với nguyên tắc phải hoàn trả cả gốc lẫn lãi” [6] Trong đó doanh nghiệp cũng là một khách hàng vay của ngân hàng nên cũng chịu sự chi phối của quyết định trên.3 Các phương thức cho vay doanh nghiệp a.
Cho vay thấu chi Là nghiệp vụ cho vay khi tổ chức tín dụng chấp thuận bằng văn bản cho khách hàng chi vượt số tiền có trên tài khoản thanh toán của mình đên một Luan van 9 mức độ nhất định và trong một khoảng thời gian xác định. Giới hạn đó là hạn mức thấu chi. Với hạn mức thấu chi này, bạn có thể dùng tiền trong hạn mức này khi tài khoản bạn không có số dư. Ví dụ, bạn được cấp hạn mức thấu chi trên tài khoản vãng lai là 10 triệu đồng.
Có nghĩa là khi tài khoản này không còn đồng xu nào, bạn vẫn có thể rút tối đa 10 triệu và chi tiêu thoải mái, tức là tài khoản vãng lai của bạn được phép âm tối đa 10 triệu. Khi bạn nộp tiền vào tài khoản này, lập tức hai bên nợ có đối trừ cho nhau. Ví dụ tài khoản đang âm 10 triệu đồng, bạn nộp 9 triệu thì tài khoản vẫn âm 1 triệu, còn nếu nộp 11 triệu thì tài khoản sẽ dương 1 triệu. Tài khoản tiền vay thông thường thì khác hẳn.
Việc ghi nợ và có của tài khoản tiền vay phải tương ứng với các khế ước nhận nợ chứ không đối trừ nợ có để ra một số dư cuối cùng như ở tài khoản thấu chi. Khách hàng chỉ có thể chi tiêu trong khoản tiền tín dụng ngân hàng đã cấp. Vay thấu chi thường được sử dụng khi bạn cần nóng một khoản tiền. Lãi suất thấu chi khá cao và tính theo ngày, nên khi nhận một khoản vay thấu chi tuy được chi tiêu thoải mái nhưng phải tính đến khả năng trả nợ.
Để có thể thấu chi, khách hàng chỉ cần làm đơn xin ngân hàng hạn mức thấu chi và thời gian thấu chi, tuy nhiên nhiều khi khách hàng phải trả phí có thể được thấu chi. Sau khi được ngân hàng chấp nhận, khách hàng có thể kí séc, lập ủy nhiệm chi quá số dư tiền gửi có trong tài khoản nhưng vẫn phải trong hạn mức thấu chi. Số lãi mà khách hàng phải trả cho ngân hàng: Số lãi phải trả = Lãi suất thấu chi×thời gian thấu chi × số tiền thấu chi Các khoản khách hàng chi vượt quá hạn mức thấu chi sẽ bị phạt lãi và ngân hàng có thể đình chỉ việc sử dụng hình thức này. Trong quá trình sản xuất kinh doanh của mình đôi khi có những vẫn đề phát sinh bất ngờ nằm ngoài những dự đoán và tính toán của doanh nghiệp, chính vì thế với hình thức cho vay thấu chi của ngân hàng thương mại như thế Luan van 10 này sẽ giúp cho doanh nghiệp có thêm được một nguồn hỗ trợ tài chính khi cần thiết.
Có thể nói thấu chi là hình thức cho vay ngắn hạn, linh hoạt, thủ tục đơn giản. Hình thức cho vay này tạo điều kiện cho doanh nghiệp trong quá trình thanh toán chủ động hơn, kịp thời hơn. Tuy nhiên hình thức này ngân hàng hầu như chỉ áp dụng đối với các khách hàng thân quen, có độ tin cậy cao, có thu nhập ổn định. Cho vay trực tiếp từng lần Đối với các khách hàng không có nhu cầu vay vốn thường xuyên, ngân hàng thường thực hiện cho vay trực tiếp từng lần.
Mỗi lần vay vốn khách hàng phải làm đơn xin vay và trình bày với ngân hàng về phương án sử dụng vốn vay. Theo đó ngân hàng sẽ thực hiện phân tích trước khi cho vay và quyết định hạn mức tín dụng, thời hạn giải ngân, phương án trả nợ, lãi suất và đảm bảo nếu cần. Trong đó mỗi món vay được tách biệt thành các hồ sơ khác nhau. Phương thức cho vay từng lần tương đối đơn giản, phổ biến và giúp cho ngân hàng dễ dàng quản lý việc sử dụng theo mục đích của mỗi món vay.
Các DN thường có phương án sản xuất kinh doanh ngắn hạn và bao gồm nhiều giai đoạn khác nhau. Thông thường các DN thường vay vốn ngân hàng để đảm bảo một số giai đoạn nhất định của chu kì sản xuất kinh doanh, tức là vốn ngân hàng chỉ tài trợ theo tính chất thời vụ. Đây là hình thức cho vay khá phổ biến. Ngân hàng sẽ tiến hàng các quy trình cho vay cần thiết đối với khách hàng.
Mỗi món vay thường tách biệt thành các hồ sơ nợ khác nhau do đó ngân hàng sẽ thu nợ theo từng hợp đồng khác nhau. Lãi suất của hình thức vay này có thể là lãi suất cố định hoặc thả nổi theo thị trường. Nghiệp vụ này thường được áp dụng đối với các khách hàng chưa có nhu cầu vốn thường xuyên và không có điều kiện để được cấp hạn mức thấu chi. Vốn của ngân hàng thường chỉ tham gia vào một số giai đoạn nhất định của quá trình sản xuất.
Đây là hình thức cho vay đơn giản, Luan van 11 ngân hàng dễ kiểm soát và thu nợ theo từng món riêng biệt. Cho vay theo hạn mức Cho vay theo hạn mức là nghiệp vụ tín dụng mà theo đó NHTM thỏa thuận cấp cho khách hàng hạn mức tín dụng tính cho cả kì hoặc cuối kì. Hạn mức tín dụng được đưa ra sau khi ngân hàng xem xét kế hoạch sản xuất kinh doanh, nhu cầu vốn của khách hàng, đồng thời đối chiếu với khả năng và quy định của bản thân ngân hàng đó. Đối với khách hàng được cấp hạn mức tín dụng cả kì, trong kì khách hàng có thể vay trả nhiều lần nhưng dư nợ không được vượt quá hạn mức quy định.
Đối với hạn mức tính cho cuối kì thì trong kì số dư món vay của khách hàng có thể vượt quá, tuy nhiên khách hàng phải điều chỉnh sao cho số dư tại thời điểm cuối kì đảm bảo đúng hạn mức. Theo hình thức này, mỗi lần vay khách hàng chỉ cần trình bày phương án sử dụng tiền vay, nộp các giấy tờ chứng minh đã mua hàng hoặc dịch vụ và nêu yêu cầu vay. Sau khi kiểm tra tính hợp lệ hợp pháp của chứng từ ngân hàng sẽ quyết định cho vay dựa vào hạn mức và dư nợ hiện tại của khách hàng đến thời điểm đó. Với hình thức này, các DN có nhu cầu vay vốn ngân hàng thường xuyên để tài trợ nhiều giai đoạn trong cả chu kì sản xuất kinh doanh sẽ thuận tiện hơn về thủ tục xin vay.
Ngân hàng chỉ thu nợ khi DN có thu nhập, tạo điều kiện chủ động trong quản lí ngân quỹ. Tuy nhiên do các khoản vay không tách biệt nên ngân hàng khó quản lí việc sử dụng đúng mục đích của khoản vay, vì vậy ngân hàng thường cho vay theo hạn mức đối với những DN có mối quan hệ bền vững với ngân hàng. Cho vay luân chuyển Đây là nghiệp vụ cho vay dựa trên sự luân chuyển của hàng hóa. Doanh nghiệp thường có nhu cầu về vốn khi mua hàng hóa, do đó ngân hàng sẽ cho Luan van 12 vay để mua hàng và sẽ thu hồi khi doanh nghiệp bán được hàng.
Khi vay khách hàng chỉ cần gửi cho ngân hàng các chứng từ hóa đơn cần thiết và số tiền cần vay. Ngân hàng và khách hàng sẽ thỏa thuận với nhau về phương thức cho vay, hạn mức tín dụng.