LỜI MỞ ĐẦU Tinh thể quang tử được tạo thành từ các cấu trúc điện môi hoặc kim loại - điện môi được thiết kế để tác động lên sự lan truyền của sóng điện từ tương tự như cách các hố năng lượng tuần hoàn trong các tinh thể bán dẫn tác động lên chuyển động của electron, tức là tạo ra các cấu trúc vùng năng lượng trong tinh thể. Ở đây, có một vùng trống trong cấu trúc năng lượng photon là những kiểu lan truyền mà sóng điện từ không được phép, hay những dải bước sóng không lan truyền được. Điều này có thể ứng dụng để ngăn cản phát xạ tự phát, gương định hướng có độ phản xạ cao hay ống dẫn sóng có độ hao tổn thấp [1, 2]. Năm 1964, Purcell dự đoán rằng tốc độ phát xạ tự phát có thể bị ảnh hưởng bởi mật độ các trạng thái mode điện từ [3].
Từ thời điểm đó, sự thay đổi của phát xạ tự phát được nghiên cứu bằng số học bởi nhiều nhóm [4, 5]. Gần đây, phương pháp số học đơn giản thu được kết quả tốc độ phát xạ tự phát của lưỡng cực được đặt trong buồng cộng hưởng đã đựợc báo cáo [6,7]. Một phương pháp điều khiển phát xạ tự phát là tạo buồng có kích thước cỡ bước sóng trong tinh thể quang tử. Khi một khuyết tật được tạo ra trong tinh thể quang tử thì các mode cộng hưởng được hình thành bên trong vùng cấm quang tử [8, 10].
Có khá nhều các nghiên cứu liên quan đến việc tạo khuyết tật để khảo sát và tối ưu hóa độ truyền qua. Jeong-Ki Hwang [11] cùng nhóm nghiên cứu đã nghiên cứu trên khuyết tật tam giác trong tinh thể quang tử hai chiều dùng phương pháp FDTD (finite-difference timedomain method) và thu được kết quả là mode đơn cực không suy biến và vẫn giữ kết quả không suy biến thậm chí buồng cộng hưởng bất đối xứng; O. Painter khảo sát các đặc tính quang học của tinh thể quang tử hai chiều được tạo thành bởi dãy các lỗ khí lục giác với khuyết tật là lấp đầy một lỗ khí cũng bằng phương pháp FDTD [12]; hoặc công trình của H. Ryu cho khuyết tật mạng vuông [13]; Các nghiên cứu còn tập trung vào các vùng bước sóng quang học mà tinh thể quang tử hoạt động như vùng gần hồng ngoại [14, 15], vùng vực tím đến vùng ánh sáng xanh [16] và vùng ánh sáng khả kiến HVTH: Đinh Thị Mỹ Ngọc GVHD: TS.
Đinh Sơn Thạch Luận văn thạc sĩ 15 [17]. Ngoài ra các nghiên cứu thay đổi các thông số cấu trúc của tinh thể quang tử như bán kính lỗ, chu kỳ lỗ… cũng được khảo sát. Các tinh thể quang tử có thể được ứng dụng để điều khiển sự lan truyền của ánh sáng. Tinh thể quang tử một chiều đã và đang được dùng rộng rãi trong quang học màng mỏng; như tạo ra các lớp phủ lên bề mặt thấu kính hay gương để tạo ra độ phản chiếu thấp hay cao tuỳ ý; hay trong sơn đổi màu và in ấn bảo mật.
Các tinh thể quang tử hai chiều và ba chiều được dùng trong nghiên cứu khoa học. Ứng dụng thương mại đầu tiên của tinh thể quang tử hai chiều là sợi tinh thể quang tử, thay thế cho sợi quang học truyền thống trong các thiết bị quang học phi tuyến và dùng với các bước sóng đặc biệt (ở đó không có vật liệu truyền thống nào trong suốt ngoài không khí hay các chất khí). Tại Việt Nam, việc nghiên cứu về tinh thể photonic còn là một vấn đề rất mới mẻ, thu hút được sự quan tâm của nhiều viện nghiên cứu và các trường đại học. Đề tài này sẽ tập trung vào mục đích tìm hiểu cách sử dụng hai phần mềm MPB và MEEP của MIT, đồng thời khảo sát các thông số mạng của tinh thể quang tử có khuyết tật cho các tính chất quang học tối ưu….
Do vậy nội dung luận văn được chia làm ba phần. Phần 1 là tìm hiều tổng quan về tinh thể quang tử. Phần 2 là nghiên cứu các phương pháp tính toán và hai phần mềm mô phỏng cho tinh thể quang tử. Cuối cùng là kết quả mô phỏng đạt được và hướng phát triển của đề tài.
HVTH: Đinh Thị Mỹ Ngọc GVHD: TS. Đinh Sơn Thạch Luận văn thạc sĩ 16 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ TINH THỂ QUANG TỬ. Định nghĩa tinh thể quang tử. Tinh thể quang tử là một loại vật liệu mà cấu trúc của nó là sự sắp xếp tuần hoàn của vật liệu có hằng số điện môi khác nhau trong không gian.
Sở dĩ nó được gọi là "tinh thể" vì nó được hình thành bởi một sự sắp xếp tuần hoàn các khối vật liệu cơ bản. Thuật ngữ "quang tử" được thêm vào vì tinh thể quang tử được thiết kế để tác động lên sự lan truyền của sóng điện từ trong tinh thể, tương tự như cách các hố thế tuần hoàn trong tinh thể bán dẫn tác động lên chuyển động của các electron. Nghĩa là trong tinh thể quang tử có sự tuần hoàn chênh lệch chiết suất lớn của các môi trường, hình thành nên những dải tần số mà sóng điện từ có thể lan truyền được hoặc không trong tinh thể. Các bước sóng lan truyền được phải gần bằng với hằng số mạng của tinh thể, được gọi là các mode, nhóm các mode lan truyền tạo thành dãi.
Dãi bước sóng không lan truyền được gọi là vùng cấm - không có trạng thái điện từ nào tồn tại. Độ rộng của vùng cấm tùy thuộc vào độ chênh lệch của sự tập trung năng lượng điện trường trong hai vùng, hay độ chênh lệch giữa hai hằng số điện môi của hai vùng đó.1: Tinh thể quang tử nhân tạo HVTH: Đinh Thị Mỹ Ngọc GVHD: TS. Đinh Sơn Thạch Luận văn thạc sĩ 17 Trong tự nhiên, tinh thể quang tử được phát hiện trên cánh của các loài côn trùng như bướm ở Amazon, bọ cánh cứng ở Brazil hay trên lông của chim công. Ngoài các màu sắc tự nhiên do sắc tố quy định thì ở chúng còn phản chiếu các màu sắc óng ánh khác thường.
Khi kiểm tra cấu trúc cánh của chúng thì các nhà khoa học đã tìm thấy một sự sắp xếp tuần hoàn trong cấu tạo của cánh và nhờ đó cho phép một dãi ánh sáng truyền qua và được khuếch đại, tạo nên màu sắc lấp lánh khác biệt.2: Tinh thể quang tử trong tự nhiên 1. Phân loại tinh thể quang tử. Dựa vào sự sắp xếp tuần hoàn của điện môi, ta có được ba loại tinh thể quang tử một chiều (1D), hai chiều (2D) và ba chiều (3D).3: Phân loại tinh thể quang tử: 1D, 2D và 3D HVTH: Đinh Thị Mỹ Ngọc GVHD: TS. Đinh Sơn Thạch Luận văn thạc sĩ 18 - Tinh thể quang tử 1D: các lớp điện môi sắp xếp xen kẽ nhau trong không gian, tuần hoàn theo một phương nhất định và đồng nhất trong mặt phẳng còn lại.
- Tinh thể quang tử 2D: vật liệu điện môi được sắp xếp tuần hoàn theo hai trục và đồng nhất theo trục thứ ba. - Tinh thể quang tử 3D: vật liệu điện môi sắp xếp tuần hoàn theo ba chiều trong không gian. Hiện nay tinh thể quang tử 2D được nghiên cứu phổ biến hơn vì nó dễ chế tạo cũng như dễ xử lý các khuyết tật hơn so với tinh thể quang tử 3D. Sóng điện từ trong tinh thể quang tử.
Khi tìm hiểu về tinh thể quang tử, ta tìm hiểu về sự tương tác của ánh sáng với tinh thể, mà ánh sáng là sóng điện từ, do đó ta khảo sát sự lan truyền của sóng điện từ trong tinh thể quang tử bằng cách giải hệ phương trình Maxwell cho môi trường điện môi. Hệ phương trình Maxwell tổng quát: ⃗⃗⃗ ⃗ ⃗ ⃗ ⃗ ⃗ Trong đó: ⃗ ⃗ : vectơ cường độ điện trường, vectơ cường độ từ trường. ⃗ ⃗ : vectơ cảm ứng điện, vectơ cảm ứng từ. : mật độ điện tích tự do, mật độ dòng.
Bài toán trong tinh thể quang tử: vật liệu điện môi được sắp xếp tuần hoàn nên hằng số điện môi là một hàm của vectơ vị trí. Đồng thời, cấu trúc không biến HVTH: Đinh Thị Mỹ Ngọc GVHD: TS. Đinh Sơn Thạch Luận văn thạc sĩ 19 thiên theo thời gian, không có điện tích tự do hay dòng điện. Vậy ta sẽ giải hệ phương trình Maxwell với các điều kiện sau: Đầu tiên ta tìm mối liên hệ gần đúng của ⃗ với ⃗ và ⃗ với ⃗ trong bốn phương trình.
Yếu tố của ⃗ liên hệ với của ⃗ theo công thức: ∑ ∑ Với F/m là hằng số điện môi của chân không. Tuy nhiên, với nhiều vật liệu điện môi, có thể lấy gần đúng vì các lý do sau: - Giả sử độ lớn của trường đủ nhỏ để có thể xem là tuyến tính. Khi đó và các yếu tố bậc cao có thể bỏ qua. - Giả sử vật liệu là vĩ mô và đẳng hướng nên ⃗ và ⃗ liên hệ với nhau bằng ε0 nhân với hàm điện môi vô hướng gọi là hằng số điện môi tương đối.
- Bỏ qua sự phụ thuộc tần số của hằng số điện môi. Chọn giá trị của hằng số điện môi gần đúng với giới hạn tần số của hệ đang xét. - Tập trung vào vật liệu trong suốt nên xem là hàm thực và dương. Dùng các phép lấy gần đúng trên, ta có: ⃗ ⃗ Tương tự: ⃗ ⃗ với là độ từ thẩm của chân không.
Nhưng đối với một số vật liệu thì độ từ thẩm tỉ đối. Do đó: ⃗ ⃗ Tổng hợp các kết quả trên, hệ phương trình Maxwell trở thành: ⃗ [ ⃗ ] HVTH: Đinh Thị Mỹ Ngọc GVHD: TS. Đinh Sơn Thạch Luận văn thạc sĩ 20 ⃗ ⃗ ⃗ ⃗ Cả ⃗ và ⃗ đều là những hàm phức tạp theo không gian và thời gian. Nhưng vì những phương trình Maxwell là tuyến tính nên ta có thể tách thành tích của hai hàm độc lập theo không gian và thời gian bằng cách mở rộng trường thành một chuỗi các mode sóng tuần hoàn.
Do đó, ta có thể viết theo hàm mũ phức của thời gian như sau: ⃗ ⃗ ⃗ ⃗ Thay vào hai phương trình div trong hệ phương trình Maxwell ta được: ⃗ [ ⃗ ] Từ đây ta có thể giải thích không có nguồn điểm hay từ tích trong môi trường hay mô hình trường là tập hợp những sóng điện từ ngang. Thay vào hai phương trình còn lại: ⃗ ⃗ ⃗ ⃗ (1.16a) * ⃗ + ⃗ HVTH: Đinh Thị Mỹ Ngọc GVHD: TS. Đinh Sơn Thạch Luận văn thạc sĩ 21 [ ⃗ ] ⃗ * ⃗⃗⃗ ⃗ + ( ) ⃗⃗⃗ ⃗ (1.17) ⃗ với là vận tốc ánh sáng trong chân không. √ Phương trình (17) được gọi là phương trình chủ lực.Với mỗi cấu trúc cho trước, giải phương trình chủ lực ta tìm được các mode ⃗ và các tần số tương ứng.