MỞ ĐẦU 1. Đặt vẫn đề Các lớp đất yếu thường bat gặp ở các dự án xây dựng. Do vay, một số lượng lớn các kỹ thuật cải tạo đất đã được phát triển để gia cố các lớp địa chất yếu nay. Phương pháp trộn sâu — Deep Mixing Method (DMM) — một kỹ thuật cải tạo đất hiện trường sử dụng chất kết dính xi măng/hoặc vôi, được phát triển ở Nhật Ban va các nước Bắc Au, thường được áp dụng để cải tạo đất yếu.
So với các phương pháp cải tạo nền khác, kỹ thuật trộn sâu hiện trường có ưu điểm như cường độ lớn trong vòng một tháng, ít tác động có hại đến môi trường và có khả năng áp dụng cao nhiều loại đất nào nếu loại và hàm lượng chất kết dính được lựa chọn thích hợp. Sự ứng dụng của nó bao trùm cả ở trên cạn và dưới nước, từ gia cường nền của công trình, chong đỡ dap, làm kết cầu tường chăn và trang bị và nâng cấp cơ sở hạ tang, giảm nhẹ moi nguy hiểm của sự hóa lỏng, các công trìnhđảo nhân tạo và kiểm soát tham. Do tính ứng dụng lớn như trên, ở Nhật Bản, từ năm 1975 đến 2010 có đến tong số khoảng 104.4 triệu mỶ đất được gia cỗ bang phương pháp trộn sâu hiện trường. Nhiều nỗ lực nghiên cứu được thực hiện để nghiên cứu các khía cạnh khác nhau của phương pháp trộn sâu ở các nước nảy.
Nhiều tác giả đã tiễn hành những những nghiên cứu lớn về các đặc tính cơ học của đất được xử lý bằng xi mang hoặc vôi va phát hiện cường độ nén của đất xử lý xi măng lớn hơn nhiều so với đất mềm; module đàn hồi cao, thường ở mức vai nghìn MN/m’, biến dạng khi phá hoại cũng ở mức rất nhỏ. Trái với cường độ nén, cường độ uốn và kéo ở giá trị tương đối nhỏ. Phương pháp thiết kế hiện hành cho các công trình co sử dụng các cọc đất trộn sâu gia cô bang xi măng/vôi hiện này chủ yếu dựa trên sự phân tích 6n định trượt ngang của ca hệ cọc (ồn định ngoạn) và phân tích sự phá hoại cọc theo phương pháp cung trượt tròn (ồn định nội). Tuy nhiên, thực tế, sự ôn định và phá hoại của hệ cọc CDM gia cỗ nên công trình lại rat đa dang và phức tạp, phụ thuộc nhiều yếu tố như: điều kiện nên đất, hàm rong xi mãng/nước, ty lệ diện tích cai tạo, bề rộng cải tạo, cường độ cọc, đường kính cọc,.
Những van đề trên cần được nghiên cứu cụ thé dé đánh giá. Mục tiêu nghiên cứu Mô phỏng va phân tích sự làm việc của hệ coc CDM dưới nền đất dap bằng phương phương pháp phân tử hữu hạn trên cơ sở so sánh với các thí nghiệm mô hình quay ly tâm. Qua đó dé xuât phương pháp đánh giá sự làm việc của hệ cọc CDM phù hợp với thực tê hơn so với phương pháp thiệt kê hiện hành. Phương pháp nghiên cứu Đề nghiên cứu những nội dung trên, học viên đã lựa chọn phương pháp sau: - Nghiên cứu công nghệ thi công phương pháp trộn sâu tạo các cọc gia cô vôi/xi măng.
- Nghiên cứu sự hình thành cường độ va làm việc cua cọc CDM. - Phân tích, đánh giá sự là việc của hệ cọc CDM dưới nên đất đắp băng cách mô phỏng các mô hình thí nghiệm quay ly tâm une hinh thu nho cua he coc CDM + công trình) theo phương pháp Phần tử hữu hạn{phan mềm Đlaxis SU Eaundatton) và so sánh với các kết quả thí nghiệm đã được tổng hợp. Y nghĩa khoa học của đề tài Đề tải này vận dụng các kết quả nghiên cứu dựa trên thực nghiệm bằng mô hình thí nghiệm quay ly tâm. Việc vận dụng những ưu điểm lớn của thí nghiệm mô hình quay ly tâm cùng những giải pháp thong minh của các tác gia để có thể quan sát, đo đạc, đánh giá sự làm việc, ôn định, trạng thái ứng suất — biến dạng của hệ cọc CDM cải tạo nền của lớp đất đắp từ những giai đoạn đầu tiên của quá trình chịu tải cho đến khi phá hoại và sau phá hoại cho cái nhìn vừa tổng quan, vừa chỉ tiết và hết sức giá trị vé sự làm việc thực tế của hệ cọc.
Từ đó, đề xuất những giải pháp tính toán mới phù hợp với thực tế hơn và gợi mở những hướng nghiên cứu về nhiều ứng dụng thực tế khác của cọc CDM. Giá trị thực tiễn của đề tài Phương pháp trộn sâu (tạo ra các hệ cọc dat gia cô bang các chất liên kết vô co) đã có những ứng dụng to lớn ở các nước tiên tiên như Bac Au và Nhật Ban. Nó ding đã được nhiêu áp dụng ở Việt Nam từ những năm dau thê kỷ 21. Năm 2001, tập đoàn Hercules của Thụy Dién hop tác với Công ty CP Phát triển kỹ thuật xây dựng (IDC) thuộc Tông công ty xây dựng Hà nội đã thi công xử ly, nén móng cho 08 bể chứa xăng dau có đường kính 21m, cao 9m (dung tích 3000m° /bé) của công trình Tổng kho xăng dầu Cần tho bang cọc đất xi măng.
Từ năm 2002 đến 2005 đã có một số dự án bắt đầu ứng dụng cọc CDM vào xây dựng các công trình trên nền đất, như: Dự án cảng Ba Ngòi (Khanh Hoada s ử dụng 4000m cọc CDM có đường kính 0,6m, gia cô nên móng cho nhà máy nước huyện Vụ Bản (Hà Nam), xử lý móng cho bồn chứa xăng dầu ở Đình Vũ (Hải Phong), dựán thoát nước khu đô thi Dé Sơn - Hải Phòng, dự án sân bay Cần Thơ, dự án cảng Bạc Liêu, các dự án trên đều sử dụng công nghệ trộn khô, độ sâu xử lý trong khoảng 20m. Hồ Chí Minh, cọc CDM được sử dụng trong dự án Đại lộ Đông Tây, building Saigon Times Square. Hiện nay, các kỹ sư lãng Orbitec đang dé xuất sử dung cọc CDM để chống mất 6n định công trình hỗ bán nguyệt — khu đô thị Phú Mỹ Hưng, dự án đường trục Bắc — Nam (giai đoạn 3) cũng kiến nghị chọn cọc CDM xử lý đất yếu. Với những ứng dụng to lớn trên, việc hiểu sâu hơn về sự làm việc của hệ cọc CDM là cân thiệt, góp phan có đánh giá va tính toán ngày càng hợp lý hơn.
Phạm vi nghiên cứu của đề tài Do tính rộng rãi và phức tạp trong các ứng dụng của phương pháp cọc CDM, đề tải chỉ tập trung vào nội dung phân tích sự làm việc của hệ cọc CDM cải tạo nên sét mêm dưới thân đập (lớp đât đăp) trên cơ sở so sánh với các kêt quả thí nghiệm mô hình quay ly tâm đã được các tác giả Nhật Bản thực hiện. MO HÌNH THÍ NGHIỆM QUAY LY TAM CUA HE COC CDM DƯỚI NÉN ĐẤT ĐẮP 1. Giới thiệu Các lớp đất mềm thường bắt gặp ở các dự án xây dựng. Do vậy, một số lượng lớn các kỹ thuật cải tạo đất đã được phát triển để gia có các lớp địa chất yếu nay.
Phương pháp trộn sâu — Deep Mixing Method (DMM) - một kỹ thuật cải tao đất hiện trường sử dụng chất kết dính xi măng/hoặc vôi, được phát triển ở Nhật Ban va các nước Bac Au, thường được áp dụng dé cải tạo đất mềm. Nhiều nỗ lực nghiên cứu được thực hiện để nghiên cứu các khía cạnh khác nhau của DMM ở các nước này. Nhiéu tác giả đã tiến hành những những nghiên cứu lớn về các đặc tinh cơ học của đất được xử lý bang xi măng hoặc vôi và phát hiện cường độ nén của đất xử lý xi măng lớn hơn nhiều so với đất mém; module đàn hồi cao, thường ở mức vài nghìn MN/m’, biến dạng khi phá hoại cũng ở mức rất nhỏ. Trái với cường độ nén, cường độ uốn và kéo ở giá trị tương đối nhỏ.
Một máy trộn sâu đặc biệt sử dụng để xử lý đất hiện trường cơ bản gồm vài lưỡi xoắn va 1 hệ thống cung cấp chất kết dính. Hết một quá trình, đất được xử lý dạng cọc được tạo ra trong nên. Nén cải tạo theo kiểu cọc, nhiều cọc được bố tri thành hang và sắp theo dạng tam giác hoặc chữ nhật, được áp dụng rộng rãi cho nền móng của đập (kè) hoặc những kết cấu nhẹ. Quy trình thiết kế nền cải tạo theo kiểu nhóm cọc DM & được lập ở Nhật Bản chủ yếu áp dụng cho nền của đập.
2 sự phân tích ồn định được đánh gia trong phuong pháp thiết kế hiện hành như thé hiện ở Hình 1: 6n định ngoại và On định nội. Ở ôn định ngoại, khả năng phá hoại trượt được tính toán, nơi mả các cọc DM và đất sét ở giữa dịch chuyển ngang trên lớp đất cứng mà không có sự sắp xếp lại của các cọc. Ở phân tích 6n định nội, phá hoại kiểu gãy đ ô được tính toán bang phân tích cung trượt tron, noi mà các coc DM được gia định pha hoại theo dang cắt. xi mang | Nén sét - dat trộn sau | : 1 i i.
Lớp đât cứng A , Tất ca các cọc dich chuyên ngang về phía trải (a) Ôn định ngoại (phá hoại trượt) 11 Đập J4 Cọc xi măng Nên sét - đât trộn sâu (b) Ôn định nội (phá hoại gãy đổ) LỚP dat cứng Hình 1. Kiểu phá hoại giả định của nền cải tạo kiểu trộn sâu trong phương pháp thiết kế hiện hành Với 6n định ngoại, Kitazume (1991 và 2000) ath we hiện một loạt các thí nghiệm quay ly tâm lênôn định của đập nước trên nên cải tạo kiểu cọc trộn sâu đến một lớp đất cứng, và cho thay kiểu phá hoại sụp đỗ (collapse) có thé xảy ra thay vì phá hoại trượt. Trong trường hợp nay, cọc DM nghiêng như hiệu ứng Domino tại đáy, như thé hiện ở Hình 2a. Điều này nghia là dang phá hoại sụp đồ ít 6n định hơn dạng phá hoại trượt.
Phương pháp thiết kế hiện hành không tính đến dạng phá hoại nay, có thé đã đánh giá quá cao 6n định ngoại. Kitazume va Maruyama (2005 va 2006) thực hiện một loạt các thí nghiệm quay ly tâm khé và dé xuất một phương pháp thiết kế 6n định ngoại bang cách kết hợp kiểu phá hoại sụp do. Với 6n định nội, Terashi và Tanaka (1983), Miyake (1991), Karatanev (1997), Hashizume (1998) và Kitazume (1996, 1999) tiến hành những thí nghiệm mô hình cho thay coc DM thé hién nhiéu dang pha hoai khac nhau: cắt, uốn va kéo, phụ thuộc không những đất nên và điều kiện tải trọng ngoài mà còn vào vị trí của mỗi cọc, như Hình 2b và 2c. Tuy nhiên, phương pháp thiết kế hiện hành không xét đến ảnh hưởng của những dạng phá hoại này, mà chỉ có dạng phá hoại cắt.