Chương 1: Giới thiệu tổng quan về lịch sử hình thành và phát triển của mạng máy tính, nguyên tắc trao đổi số liệu trong mạng và các mô hình tham TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Chương này cũng trình bày cơ bản về đánh giá hiệu suất, tầm quan trọng của việc đánh giá hiệu suất đối với hệ thống mạng máy tính, một số phương pháp đánh giá hiệu suất phổ biến đang được sử dụng. Chương 2: Trình bày các phương pháp điều khiển truy nhập mạng và các giao thức tầng Giao vận. Các giao thức được trình bày trong chương này có liên quan trực tiếp đến phần thực nghiệm mô phỏng của luận văn.
Chương 3: Trình bày các thành phần cơ bản của bộ mô phỏng mạng NS-2, một số đặc điểm và chức năng nổi bật của bộ mô phỏng NS-2. Giới thiệu một số công cụ cần thiết thường được sử dụng để phân tích và hiển thị kết quả mô phỏng. Chương 4: Trình bày khả năng tương tác với mạng thực của bộ mô phỏng NS-2, giới thiệu một số đối tượng cơ bản thực hiện tương tác với mạng thực. Chương 5: Trình bày các kết quả thực hiện mô phỏng, cụ thể là kiểm chứng các khả năng tương tác với mạng thực và quan sát thông lượng của các giao thức đang hoạt động trên mạng thực như: TCP, UDP.
Một số kết luận, nhận xét về bộ mô phỏng NS-2 và các kết quả thực nghiệm. Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đối với PGS.TS Nguyễn Đình Việt, trường Đại học Công nghệ, Đại học Quốc gia Hà Nội đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo và cho tôi nhiều lời khuyên trong suốt thời gian học tập, thực hiện luận văn. Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô, đồng nghiệp khoa Tin học, trường Đại học Quy Nhơn đã góp ý, tạo điều kiện giúp đỡ cho tôi trong thời gian thực hiện luận văn. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 5 CHƢƠNG 1: GIỚI THIỆU CHUNG 1.1 Lịch sử hình thành mạng máy tính và mạng Internet Những tiến bộ nhanh chóng của công nghiệp điện tử và vi điện tử dẫn đến sự ra đời và phát triển của máy tính điện tử.
Các thế hệ máy tính liên tục phát triển và khẳng định được vị trí của mình trong hầu hết các lĩnh vực kinh tế, văn hóa và xã hội. Máy tính xuất hiện đã giải quyết hầu hết các công việc tính toán phức tạp mà con người có thể tốn hàng nghìn năm, trong khi đó, máy tính chỉ thực hiện công việc tương ứng trong vài ngày, thậm chí là vài giờ. Tuy nhiên, lúc này các máy tính thực hiện công việc riêng rẽ, độc lập trên từng máy tính mà không giải quyết được nhu cầu chia sẻ tài nguyên hiệu quả. Các dịch vụ trên máy tính phát triển rất nhanh trên nhiều lĩnh vực, nên nhu cầu trao đổi thông tin, chia sẻ tài nguyên giữa các máy tính cũng trở nên hết sức cấp thiết.
Chính nhu cầu này đã thúc đẩy các nhà nghiên cứu xây dựng nên một công cụ nhằm trợ giúp con người trao đổi, khai thác thông tin một cách nhanh chóng, chính xác và hiệu quả - đó là mạng máy tính. Vào khoảng những năm 50 khi những thế hệ máy tính đầu tiên được đưa vào hoạt động trong thực tế với những bóng đèn điện tử thì chúng có kích thước rất cồng kềnh và tốn nhiều năng lượng. Khi đó, việc nhập dữ liệu vào các máy tính được thực hiện thông qua các tấm bìa đục lỗ. Các thiết bị đọc bìa và máy in là các thiết bị vào ra (I/O) thông dụng đối với máy tính.
Vào giữa những năm 60, máy tính trung tâm của thế hệ mới hơn có thể kết nối với nhiều trạm cuối (terminal) và thiết bị vào ra cùng lúc. Máy tính trung tâm làm tất cả mọi việc, từ quản lý các thủ tục truyền dữ liệu, quản lý sự đồng bộ của các trạm cuối, quản lý các hàng đợi,… cho đến xử lý các ngắt từ các trạm cuối. Để giảm nhẹ các nhiệm vụ trên cho Máy xử lý trung tâm, sử dụng nó một cách có hiệu quả hơn vào công việc tính toán và xử lý, người ta thêm vào hệ thống máy tính các bộ tiền xử lý, các thiết bị tập trung, các thiết bị dồn kênh dùng để tập trung các tín hiệu trên một đường truyền gửi đến từ TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 các trạm cuối. Máy tính xử lý trung tâm và các thiết bị trên tạo thành một mạng truyền tin.
Vào những năm 1970, các máy tính đã được nối với nhau trực tiếp để tạo thành một mạng máy tính nhằm phân tán tải của hệ thống và tăng độ tin cậy. Cũng trong thời gian này bắt đầu xuất hiện khái niệm Mạng truyền thông (communication network). Trong đó, các thành phần chính là các nút mạng, thường được gọi là các bộ chuyển mạch (switching unit) dùng để hướng các đơn vị thông tin (gói tin) tới đích. Các nút mạng nối với nhau bằng đường truyền (transmission line), còn các trạm cuối được nối trực tiếp vào các nút mạng.
Vào năm 1974, công ty IBM đã giới thiệu một loạt các thiết bị đầu cuối được chế tạo cho lĩnh vực ngân hàng và thương mại, thông qua các dây cáp mạng, các thiết bị đầu cuối có thể truy cập đồng thời vào một máy tính dùng chung. Năm 1977, công ty Datapoint Corporation đã bắt đầu bán hệ điều hành mạng của mình là "Attached Resource Computer Network" (hay gọi tắt là Arcnet) ra thị trường. Mạng Arcnet cho phép liên kết các máy tính và các trạm đầu cuối lại bằng dây cáp mạng, và Arcnet đã trở thành hệ điều hành mạng cục bộ đầu tiên. Vào những năm 1980 các nhà nghiên cứu cho ra đời hệ thống đường truyền tốc độ cao nhằm kết nối các mạng trong các khu vực và các thành phố lớn với nhau.
Các đường truyền tốc độ cao có thể được dùng chung (chia sẻ) để kết nối nhiều mạng với nhau mà không cần phải xây dựng mới các hệ thống đường truyền. Năm 1983, mạng Internet chính thức ra đời, Internet là mạng truyền thông toàn cầu kết nối hàng trăm nghìn mạng máy tính lại với nhau. Các mạng máy tính bao gồm các mạng diện rộng (WAN) và các mạng cục bộ (LAN) của bất kỳ chủ sở hữu nào nằm ở khắp nơi trên toàn cầu. Mỗi mạng máy tính lại có thể có nhiều máy tính chủ (máy tính cung cấp dịch vụ) và hàng trăm ngàn máy tính riêng lẻ kết nối để sử dụng các dịch vụ Internet.
Các TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 quốc gia có kết nối mạng Internet toàn cầu thường xây dựng mạng đường trục tốc độ cao, là một hệ thống mạng liên kết có tốc độ truyền cực cao so với tốc độ truyền của hệ thống mạng thông thường. Tiền thân của Internet là APARNET, là mạng diện rộng được xây dựng và phát triển dựa trên công nghệ chuyển mạch gói phục vụ nghiên cứu của Bộ Quốc phòng Mỹ giữa những năm 60 của thế kỷ 20. Mạng kết hợp nhiều loại máy tính khác nhau nằm cách xa nhau để trao đổi và chia sẻ các tài nguyên thông tin. Một trong những mục tiêu của APRANET là làm sao sự truyền thông trong mạng vẫn còn duy trì ngay cả khi có một số thành phần mạng bị hỏng.
Ngày nay, Internet đã trở thành mạng của các mạng thông tin máy tính toàn cầu, được kết nối với nhau dựa trên bộ giao thức trao đổi số liệu TCP/IP (Transmission Control Protocol/Internet Protocol). Các dịch vụ trên Internet liên tục được phát triển, đáp ứng hầu hết các dịch vụ thông tin liên lạc của xã hội. Một số dịch vụ như: 1. E-mail: Cho phép soạn, gửi và nhận các thư điện tử trong mạng, nó xuất hiện trong những ngày đầu của ARPANET và được nhiều người quan tâm.
Tin tức: Các nhóm thiết kế diễn đàn đăng các thông tin công cộng và có thể trao đổi các thông điệp. Đăng nhập từ xa: Sử dụng các chương trình telnet, rlogin, ssh, người sử dụng ở bất kỳ đâu trên Internet cũng có thể đăng nhập đến các máy tính khác khi có một tài khoản. Truyền tệp: Sử dụng chương trình FTP, người dùng có thể sao chép các tệp tin từ một máy trên Internet đến máy khác. Năm 1990, Tim và Robert Cailliau đưa ra dự án thiết kế hệ thống thông tin toàn cầu World Wide Web (WWW) dựa trên ý tưởng siêu văn bản.
Sự ra đời của WWW đã làm thay đổi nhiều khả năng ứng dụng Internet trong đời TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 sống xã hội, mặc dù không làm thay đổi gì về cơ bản của mạng nhưng làm cho người dùng dễ sử dụng hơn. Nó cho phép người sử dụng có thể khai thác thông tin trên Internet dưới dạng văn bản, hình ảnh, âm thanh và video dựa vào hệ thống văn bản siêu liên kết toàn cầu.2 Giao thức và kiến trúc giao thức 1.1 Khái niệm giao thức Việc trao đổi thông tin, cho dù là đơn giản nhất, cũng đều phải tuân theo những quy tắc nhất định. Việc truyền tín hiệu trên mạng cần phải có những quy tắc, quy ước về nhiều mặt, từ khuôn dạng (cú pháp, ngữ nghĩa) dữ liệu cho tới các thủ tục gửi/nhận dữ liệu, kiểm soát chất lượng truyền tin và xử lý các lỗi. Yêu cầu về xử lý và trao đổi thông tin của người sử dụng càng cao thì các quy tắc càng nhiều và phức tạp hơn.
Tập hợp tất cả những quy tắc, quy ước đó được gọi là giao thức (Protocol) của mạng. Rõ ràng, các mạng có thể sử dụng các giao thức khác nhau tùy sự lựa chọn của người thiết kế. Tuy nhiên, các tổ chức chuẩn quốc tế đã đưa ra một số giao thức chuẩn được dùng trong nhiều mạng khác nhau để thuận lợi cho việc kết nối chung.2 Kiến trúc phân tầng và các mô hình tham chiếu ISO/OSI và TCP/IP Để giảm phức tạp của việc thiết kế và cài đặt mạng, hầu hết các mạng máy tính đều được phân tích, thiết kế theo quan điểm phân tầng (layering). Sự phân tầng giao thức rất quan trọng vì nó chia nhiệm vụ cho các tầng thực hiện các chức năng chuyên biệt.
Mỗi tầng thực hiện một số chức năng xác định và cung cấp một số dịch vụ nhất định cho tầng cao hơn. Tầng cao hơn chỉ cần sử dụng các dịch vụ tầng bên dưới cung cấp mà không cần quan tâm chi tiết tầng bên dưới thực hiện dịch vụ như thế nào. Các hệ thống mạng khác nhau có thể có số lượng tầng khác nhau và chức năng mỗi tầng cũng khác nhau. Khi xây dựng một hệ thống mạng phân tầng, người ta cần xác định số lượng tầng, chức năng mỗi tầng, sau đó định nghĩa mối quan hệ giữa hai tầng đồng mức và mối quan hệ giữa hai tầng kề nhau.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.