CHƯƠNG 1: XU HƯỚNG PHÁT TRIỂN CỦA HỆ THỐNG VIỄN THÔNG HIỆN ĐẠI Để nghiên cứu xây dựng mô hình mạng IP trên nền ATM phù hợp với sự phát triển của một hệ thống tiên tiến trong thực tế, trước tiên ta phải hiểu xu hướng phát triển của hệ thống viễn thông hiện đại. Các xu hướng này được các nhà khai thác mạng đưa ra nhằm khắc phục những bất cập của hệ thống mạng viễn thô ng hiện tại, đáp ứng nhu cầu truyền thông đa phương tiện đang ngày một gia tăng. Để giải quyết từng bước vấn đề này trước tiên ta xem xét thực trạng của mạng Viễn thông truyền thống của nước ta hiện nay.1 Thực trạng kiến trúc của mạng Viễn thông truyền thống Mạng viễn thông hiện tại khởi nguồn từ mạng thoại, đã được hiện đại hóa nhờ sự phát triển của khoa học công nghệ. Tuy nhiên các mạng viễn thông hiện tại còn tồn tại một cách riêng lẻ, chưa nằm trong một thể thống nhất.
Mỗi mạng được thiết kế cho các dịch vụ riêng biệt, rất khó khăn trong việc triển khai các dịch vụ truyền thông đa phương tiện. Kiến trúc mạng viễn thông truyền thống có thể thấy sự lạc hậu thể hiện ở một số điểm sau: Kiến trúc cồng kềnh. Chia tách thành nhiều mạng. Không theo kịp sự phát triển của công nghệ.
Không theo kiến trúc mở, khó ứng dụng công nghệ mới. Căn cứ trên quá trình hình thành và phát triển của các mạng hiện tại, chúng ta cần xem xét một số yếu tố cơ bản trước khi tìm hiểu xu hướng phát triển: Xét về góc độ dịch vụ gồm có mạng thoại và mạng phi thoại. Xét về góc độ kỹ thuật bao gồm các mạng chuyển mạch, mạng truyền dẫn, mạng truy nhập, mạng báo hiệu và mạng đồng bộ. Hiện nay các nhà cung cấp dịch vụ thu được lợi nhuận phần lớn từ các dịch vụ như leased line, Frame Relay, ATM, và các dịch vụ kết nối cơ bản.
Tuy nhiên xu hướng giảm lợi nhuận từ các dịch vụ này bắt buộc các nhà khai thác phải tìm dịch vụ mới dựa trên công nghệ IP để đảm bảo lợi nhuận lâu dài. LuËn v¨n cao häc Ph¹m ThÞ Hång -- Líp K10§1 - §¹i häc C«ng nghÖ LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 14 X©y dùng m« h×nh m¹ng IP over ATM phôc vô cho ®µo t¹o 1.2 Các hạn chế của mạng Viễn thông nƣớc ta hiện nay 1.1 Hạn chế trong việc phân cấp mạng theo địa lý hành chính Với cách tổ chức cung cấp dịch vụ thông tin theo điạ bàn hành chính tỉnh / thành phố như hiện nay, mã vùng tương ứng với mã tỉnh/thành phố, ngoại trừ Hà Nội (mã 04) và thành phố Hồ Chí Minh (mã 08) và một số tỉnh/ thành phố trọng điểm khác, còn lại mỗi vùng tương ứng với mỗi tỉnh/thành phố tuy có số lượng thuê bao và lưu lượng không lớn nhưng vẫn hình thành mạng riêng theo địa bàn hành chính. Đặc biệt một số tỉnh khi tiến hành tách tỉnh theo địa bàn hành chính (năm 1997) thì cũng hình thành mạng mới với các Host mới tạo nên một số vấn đề phức tạp trong việc cung cấp dịch vụ. Ví dụ: Hai thuê bao truớc đây thuộc một tỉnh khi thực hiện cuộc gọi thì lưu lượng cuộc gọi chỉ cần đi qua hai tổng đài vệ tinh và một tổng đài Host và cước cuộc gọi được tính với giá cước nội hạt.
Khi tiến hành tách tỉnh hai thuê bao này ở hai tỉnh liền kề nhau khi thực hiện cuộc gọi thì lưu lượng cuộc gọi phải đi qua hai tổng đài Host và vòng qua tổng đài Toll (đặt tại Hà Nội, Đà Nẵng hoặc thành phố Hồ Chí Minh) và giá cước sẽ được tính theo cước đường dài. Theo cấu hình và tổ chức khai thác hiện nay của mạng Viễn thông Việt Nam, các cuộc gọi đường dài quốc gia phải đi qua tối thiểu qua 3 tổng đài và 2 đoạn truyền dẫn, nếu cuộc gọi không thể gửi theo mạch trực tiếp được thì lưu lượng cuộc gọi phải định tuyến qua rất nhiều tổng đài chuyển tiếp. Do vậy chất lượng của dịch vụ Viễn thông được cung cấp sẽ bị ảnh hưởng rất nhiều bởi cấu hình và cách tổ chức khai thác này. Mặt khác nếu xem xét ở góc độ kinh tế thì cách thức thực hiện việc cung cấp các dịch vụ Viễn thông và việc tổ chức khai thác như vậy là không hiệu quả cao.
Do đó phải tìm ra một cấu trúc tổ chức khác hoàn thiện hơn đáp ứng được nhu cầu quản lý và cung cấp dịch vụ.2 Các dịch vụ tồn tại trên những mạng riêng lẻ Mạng Viễn thông thế hệ cũ đã tồn tại và phát triển gần 100 năm, trong 100 năm đó ít có sự thay đổi mang tính cách mạng và khoảng cách giữa các mốc chuyển LuËn v¨n cao häc Ph¹m ThÞ Hång -- Líp K10§1 - §¹i häc C«ng nghÖ LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 15 X©y dùng m« h×nh m¹ng IP over ATM phôc vô cho ®µo t¹o đổi công nghệ cũng rất xa nhau (từ chuyển mạch cơ sang chuyển mạch điện tử analog rồi đến chuyển mạch số, chuyển mạch gói….) Các nhánh công nghệ Viễn thông khác nhau đã tạo ra các mạng lõi cung cấp các dịch vụ Viễn thông tồn tại dưới những dạng riêng lẻ như mạng chuyển mạch PSTN, mạng X.25, mạng di động….1: Sự tồn tại riêng rẽ của các loại hình dịch vụ trên các loại mạng khác nhau 1.3 Mạng viễn thông hiện tại đang có cấu trúc đóng Thời gian trước đây do công nghệ chưa phát triển, các thiết bị Viễn thông là độc quyền của các công ty Viễn thông lớn. Các công nghệ (phần cứng/ phần mềm) chuyên dụng được sử dụng trong các thiết bị này và thường là bí mật công nghệ của từng hãng và không được công bố rộng rãi, tổng đài như một chiếc hộp đen chỉ có đầu vào và đầu ra. Do vậy, khi mua thiết bị chuyển mạch cơ sở của một hãng nào đó thì các thiết bị cấu thành khác như: Các trạm lặp thuê bao xa, các bộ tập trung, các modul chuyển mạch vệ tinh….cũng phải chọn của chính hãng đó. Rất nhiều công ty dùng chính những sự hạn chế này để ép khách hàng, có thể ban đầu giá thành của phần chuyển mạch cơ sở rất rẻ nhưng khi khách hàng có nhu cầu nâng cấp thì các nhà sản xuất thiết bị đó sẽ tăng giá lên rất cao nhưng nhà khai thác không có sự lựa chọn nào khác.
LuËn v¨n cao häc Ph¹m ThÞ Hång -- Líp K10§1 - §¹i häc C«ng nghÖ LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 16 X©y dùng m« h×nh m¹ng IP over ATM phôc vô cho ®µo t¹o Hình 1.2 Tổng đài thực sự là một “bí mật” đối với người sử dụng Cũng vì cấu trúc của của các hệ thống chuyển mạch đóng nên các hãng sản xuất các phần cứng Viễn thông nhỏ lẻ cũng không có cơ hội tồn tại vì không có khả năng tương thích với các thiết bị của các hãng lớ n khác.4 Sự bất cập trong việc cung cấp dịch vụ mới Do các của mạng Viễn thông hiện tại tồn tại một cách riêng lẻ, công nghệ sử dụng trong mỗi mạng là quá khác nhau nên các dịch vụ cũng chỉ giới hạn trong các mạng này, nó nghèo nàn và khó có cơ hội phát triển. Mặt khác các dịch vụ mạng hiện tại thường do các nhà khai thác Viễn thông cung cấp, ví dụ như các dịch vụ mạng thông minh hay các dịch vụ trên mạng di động thường được định nghĩa sẵn và tích hợp luôn vào vào các thiết bị Viễn thông của nhà khai thác nên không thể thay đổi được.5 Quản lý mạng khó khăn Tổng công ty bưu chính Viễn thông Việt Nam (VNPT) trong quá trình số hoá mạng Viễn thông trong những năm qua đã cố gắng trang bị cơ sở hạ tầng Viễn thông số hiện đại và cố gắng tránh tình huống bị ép giá bằng cách trang bị các tổng đài của nhiều hãng khác nhau. Tuy nhiên điều này làm nảy sinh sự phức tạp trong kiến trúc mạng, sự tương thích giữa các chủng loại thiết bị và sự phức tạp trong quản lý 1.3 Phương hướng khắc phục Đứng trước tình hình phát triển của mạng viễn thông hiện nay, các nhà khai thác nhận thấy rằng sự hội tụ giữa mạng thoại và mạng phi thoại là xu hướng tất LuËn v¨n cao häc Ph¹m ThÞ Hång -- Líp K10§1 - §¹i häc C«ng nghÖ LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 17 X©y dùng m« h×nh m¹ng IP over ATM phôc vô cho ®µo t¹o yếu. Nhà cung cấp dịch vụ cần có một cơ sở hạ tầng duy nhất cung cấp đa dịch vụ, quản lý tập trung, giảm chi phí bảo dưỡng và vận hành, đồng thời hỗ trợ các dịch vụ của mạng hiện nay.
Việc hợp nhất các mạng riêng lẻ thành một mạng duy nhất- mạng hội tụ có thể hiểu là kết hợp các mạng thành một một mạng đa dịch vụ, có hạ tầng thông tin thống nhất dựa trên công nghệ gói để có thể triển khai nhanh chóng các loại hình dịch vụ khác nhau dựa trên sự hội tụ giữa mạng thoại và phi thoại. Thêm vào đó sự phát triển nhanh chóng của công nghệ vi xử lý, khoảng cách truyền dẫn cáp quang tăng vọt cùng với dung lượng truyền dẫn trên cáp quang không chỉ một bước sóng mà là ghép kênh đa bước sóng, các công nghệ truy nhập mới với các phương pháp mã hoá đường truyền cho phép truy nhập mạng với tốc độ cao. Mặt khác, sự bùng nổ nhu cầu dịch vụ Internet và các dịch vụ giá trị gia tăng như VoIP, VoD, VPN.yêu cầu cấp dịch vụ và mức bảo mật tăng cao để đáp ứng thương mại điện tử trên Internet. Các hệ thống mạng đường trục cũng theo hướng hội tụ để đi đến một hệ thống mạng backbone có mức độ tích hợp những ưu thế tốt nhất của công nghệ lớp 3 là IP (thông minh, linh hoạt trong định tuyến, tính mở rộng cao) với khả năng chuyển mạch nhanh và các cơ chế QoS, quản lí lưu lượng rất tốt của công nghệ lớp 2 ATM để đi đến mạng backbone đa giao thức MPLS (IP+ATM).
Như vậy, có thể xem mạng hội tụ là sự tích hợp mạng thoại PSTN, chủ yếu dựa trên kỹ thuật TDM, với mạng chuyển mạch gói, dựa trên kỹ thuật IP over ATM. Nó có thể truyền tải tất cả các dịch vụ vốn có của PSTN đồng thời cũng có thể nhập một lượng dữ liệu rất lớn vào mạng IP, nhờ đó có thể giảm nhẹ gánh nặng của PSTN. Tuy nhiên, hội tụ không chỉ đơn thuần là sự hội tụ giữa thoại và dữ liệu mà còn là sự hội tụ giữa truyền dẫn quang và công nghệ gói, giữa mạng cố định và di động.