CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ NỀN KINH TẾ CHIA SẺ Ở VIỆT NAM 1. Bản chất và vai trò của kinh tế chia sẻ và cơ hội cho logistics ở Việt Nam 1.1 Khái niệm của kinh tế chia sẻ Theo Wikipiedia, kinh tế chia sẻ là mô hình “thị trường lai” (ở giữa sở hữu và tặng quà), trong đó đề cập đến việc chia sẻ quyền truy cập vào hàng hóa và dịch vụ (phối hợp thông qua các dịch vụ trực tuyến dựa vào cộng đồng). Kinh tế chia sẻ cũng được coi là hoạt động tái thiết kinh tế, trong đó các cá nhân ẩn danh có thể sử dụng các tài sản, dịch vụ nhàn rỗi (bao gồm cả các tài sản vô hình như kỹ năng cá nhân và thời gian rảnh rỗi), được sở hữu bởi các cá nhân khác thông qua các nền tảng kết hợp trên internet. Đó là một mô hình kết nối để người tiêu dùng có thể tận dụng nguồn lực dư thừa của nhau.
Theo Investopedia, kinh tế chia sẻ có nhiều hình thức, nhưng hiện nay thường có điểm chung là sử dụng công nghệ thông tin để cung cấp cho các cá nhân, tập đoàn, phi lợi nhuận và chính quyền, từ đó cho phép tối ưu hóa các nguồn lực thông qua sự tái phân phối, chia sẻ và tái sử dụng các năng lực dư thừa hàng hóa và dịch vụ. Khái niệm: Kinh tế chia sẻ (tiếng Anh: Sharing Economy) được tạo thành từ các giao dịch ngang hàng ngắn hạn cho phép chia sẻ quyền sử dụng các tài sản hoặc dịch vụ nhàn rỗi hoặc để tạo ra sự cộng tác. Nền kinh tế chia sẻ, hay còn gọi là nền kinh tế ngang hàng, nền kinh tế mắt lưới, nền kinh tế cộng tác, tiêu dùng hợp tác là một hệ thống kinh tế - xã hội được xây dựng dựa trên việc chia sẻ của con người và các nguồn lực vật chất. Nó bao gồm chia sẻ trong sự tạo lập, sản xuất, phân phối, thương mại và tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ bởi các cá nhân, tổ chức khác nhau.
Các hình thái này có hình thức muôn hình vạn trạng, nhưng tựu trung, chúng sử dụng sức mạnh của công nghệ thông tin để mang lại lợi ích cho các cá nhân, công ty, các tổ chức phi lợi nhuận, chính phủ, với các thông tin cho phép họ phân phối, chia sẻ và tái sử dụng những nguồn lực dư thừa hàng hóa, dịch vụ. Tiền đề chung cho nền kinh tế chia sẻ là khi thông tin về hàng hóa được chia sẻ, giá trị của hàng hóa và dịch vụ sẽ tăng lên, cho cả doanh nghiệp, cá nhân và cộng đồng. 2 Tiêu dùng hợp tác là một hiện tượng mà ở đó có một loạt sự thỏa thuận kinh tế cho phép những người đồng ý tham gia chia sẻ sự kết nối đến sản phẩm, dịch vụ, hơn là sở hữu riêng lẻ. Thông thường, mô hình này được hỗ trợ bởi công nghệ và các cộng đồng ngang hàng.
Mô hình tiêu dùng hợp tác thường được sử dụng ở các sàn giao dịch điện tử như eBay, Craiglist và Krrb, các ngành mới nối như cho vay xã hội, lưu trú ngang hàng, trải nghiệm du lịch ngang hàng, phân công công việc ngang hàng, hoặc tư vấn lữ hành, chia sẻ đi lại bằng ô tô, hoặc chia sẻ đi lại bằng xe bus. Nền kinh tế mắt lưới là một mô hình kinh tế dựa trên việc chia sẻ các mắt lưới nhân lực, hàng hóa, dịch vụ. Mô hình này được hỗ trợ bởi công nghệ cho phép kết nối giữa con người, hàng hóa và dịch vụ hiệu quả hơn, tạo ra các cộng đồng, tổ chức, hoặc mô hình kinh doanh mới ở các khu vực kinh tế công và kinh tế tư nhân. Các công nghệ như các thiết bị di động, mạng xã hội, Internet, các cộng đồng kết nối, các máy in 3D, các cảm biến cho phép các cá nhân và tổ chức chia sẻ trực tiếp các nguồn lực sẵn có hơn là chờ các công ty thứ ba, hoặc chính phủ cung cấp hàng hóa, dịch vụ mà mình mong muốn.
Mô hình giữa người với người, hay còn gọi là mô hình ngang hàng tạo ra cơ hội mới cho mỗi cá nhân, cộng đồng, chính phủ và các công ty giao dịch và hợp tác. Nền kinh tế mắt lưới được giới thiệu lần đầu bởi Lisa Gansky trong quyển sách của bà The Mesh: Why the Future of Business is Sharing (tạm dịch: Nền kinh tế mắt lưới: Tại sao tương lai của các công ty nằm ở việc chia sẻ). Định nghĩa nền kinh tế chia sẻ (các tên gọi khác là sharing economy, collaborative economy, the mesh…) là hệ thống kinh tế đề cao chia sẻ và hợp tác hơn tư hữu. Con người thay vì sở hữu để thỏa mãn nhu cầu của mình thì sẽ tìm những nguồn lực trong cộng đồng.
Nền kinh tế chia sẻ đang phát triển vì nó tái phân phối tài nguyên đang không được sử dụng hiệu quả (sản phẩm mua rồi nhưng không dùng, máy móc không được khai thác tối đa thời gian sử dụng) sang chỗ mà nó được dùng hiệu quả hơn. Trong xã hội mà ô tô chỉ được dùng trung bình 1 tiếng 1 ngày (dưới 5% thời gian), 99% đồ gia dụng không được sử dụng lại trong 6 tháng… thì việc tái phân phối này là cần thiết để tiết kiệm tiền của người dùng và tài nguyên của xã hội. 3 Trên thực tế, mô hình chia sẻ đã có từ rất lâu: thư viện, thuê xe, CLB, phòng luyện tập, xe ôm, chia sẻ trong làng xã, thị trấn. Tuy nhiên từ giữa thế kỉ 20, việc chia sẻ trở nên đắt đỏ và rắc rối hơn việc sở hữu, do sự bùng nổ của sản xuất hàng loạt (cách mạng công nghiệp).Từ đó xuất hiện chủ nghĩa tiêu dùng: xây dựng trên ý tưởng tin rằng việc tiêu dùng sẽ giúp người dân thấy hạnh phúc, việc tiêu dùng giúp nền kinh tế phát triển mạnh hơn.
Giờ thì xu hướng lại đảo ngược trở lại do việc chia sẻ dần trở nên rẻ hơn. Nền kinh tế chia sẻ thuộc một xu hướng lớn hơn bắt đầu từ thời Internet: xu hướng đảo ngược chủ nghĩa tiêu dùng. Khi Internet được lan rộng, các trang như eBay và Craigslist giúp kết nối những người có và những người cần một cách hiệu quả hơn. Chia sẻ và tái phân phối tài nguyên bắt đầu rẻ đi so với mua đồ mới và vứt đồ cũ đi.
Mọi người không chỉ là người mua mà còn có thể bán thông qua thương mại ngang hàng. Việc này giúp những thứ được lãng phí do không dùng đến được tận dụng thông qua nền tảng công nghệ. Thông qua nền tảng này con người bắt đầu thay đổi quan hệ với những thứ mình tư hữu, họ nhận ra những thứ có thể được truy cập mà không cần sở hữu, thứ đắt đỏ trong việc duy trì, thứ không thực sự cần thiết, thứ không được dùng thường xuyên… đều nên thuê chứ không nên mua. Điều này thay đổi tâm lý “tư hữu”.
Những công ty Product Service bắt đầu phát triển mô hình tính phí theo sử dụng, thay vì theo sở hữu (ZipCar) từ 10 năm về trước. Bây giờ có hàng trăm công ty chia sẻ tài sản: Airbnb, RelayRides, DogVacay, LiquidSpace… Các công ty này sử dụng công nghệ điện thoại, GPS, 3G, thanh toán Online khiến cho mô hình nền kinh tế chia sẻ hoạt động với hiệu suất cao, tiết kiệm chi phí, tăng lợi ích cho người cung ứng, người có nhu cầu và người trung gian. Đồng thời việc tiết kiệm vốn của công ty (không phải mua ô tô, xây khách sạn) mà sử dụng vốn cộng đồng (xe ô tô của người tham gia, nhà ở của người tham gia) giúp các công ty có thể lan nhanh ra toàn thế giới. Bản chất của kinh tế chia sẻ Trước khi thành khái niệm vào năm 1995 tại Mỹ, kinh tế chia sẻ đã thực sự tồn tại trước đó rất lâu, có thể là trong thời kỳ kinh tế tự nhiên - phi hàng hóa.
Nhưng kinh tế 4 chia sẻ đã rất phổ biến trong thế giới tư bản vào cuối thế kỷ XIX. Đó là lúc chủ nghĩa tư bản tự do cạnh tranh chuyển sang giai đoạn độc quyền. Quá trình cạnh tranh dẫn đến phá sản, sáp nhập đồng thời hình thành những tổ chức kinh tế lớn hơn. Những tổ chức kinh tế lớn - tùy theo đặc điểm liên kết mà được chia theo nhiều dạng như cartel, syndicate, trust, là các liên kết theo hàng ngang, tức là cùng một ngành, bản chất là cùng nhau thỏa thuận thâu tóm và chia sẻ lợi lợi nhuận.
Nhưng các hình thức liên kết chia sẻ này dễ bị phá vỡ khi tương quan lực lượng giữa các mắt xích thay đổi. Yêu cầu đó là phát sinh các consortium - thuật ngữ này có nguồn gốc từ tiếng Latin (consors) có nghĩa là “người sở hữu các phương tiện, đồng đội. Mặc dù là liên kết dọc giữa các ngành không liên quan nhau nhưng có tác dụng chia sẻ với nhau về kỹ thuật, hạ tầng, nhằm giảm thiểu chi phí đầu vào, tăng sức cạnh tranh với đối thủ. Hình thức đỉnh điểm nhất của các dạng liên kết chia sẻ là conglomerat khổng lồ thâu tóm nhiều công ty, xí nghiệp thuộc những ngành công nghiệp rất khác nhau, đồng thời bao gồm cả vận tải, thương mại, ngân hàng và các dịch vụ khác… Bản chất các phương thức liên kết chia sẻ này không có mục đích gì khác ngoài việc lấy điểm mạnh của đối tác bù cho điểm yếu của mình và ngược lại, tạo ra sức mạnh vươn vòi khắp thế giới.
Bản chất của kinh tế chia sẻ - thoạt đầu đã mang nhiệm vụ phục tùng các tổ chức kinh tế độc quyền trong thế giới tư bản. Nhờ nắm được địa vị thống trị trong lĩnh vực sản xuất và lưu thông, các tổ chức độc quyền có khả năng định ra giá cả độc quyền. Giá cả độc quyền là giá cả hàng hóa có sự chênh lệch rất lớn so với giá cả sản xuất. Họ định ra giá cả độc quyền cao hơn giá cả sản xuất đối với những hàng hóa mà họ bán ra và giá cả độc quyền thấp dưới giá cả sản xuất đối với những hàng hóa mà họ mua, trước hết là nguyên liệu.
Qua đó họ thu được lợi nhuận độc quyền. Ngày nay kinh tế chia sẻ rất dễ nhận thấy, ví dụ Uber chia sẻ chuyến đi, Agoda, Airbnb cung cấp dữ liệu khách sạn, điểm đến nghỉ dưỡng trong ngành du lịch, hoặc các website thông tin, báo chí… Sự phổ biến của mạng wifi và sự ra đời của các fintech cho phép con người có thể tìm kiếm và sử dụng nhiều nguồn tài nguyên sẵn có; có thể tận dụng được những thứ người khác bỏ đi trong khi mình chưa có. 5 Kinh tế chia sẻ thật ra chỉ là một phương thức phân phối mới.