CHƯƠNG I - TỔNG QUAN HIỆN TRẠNG KHAI THÁC VỆ TINH ĐỊA TĨNH BĂNG RỘNG VÀ VỆ TINH TẦM THẤP 1.1 Khái quát chung về thông tin vệ tinh Thông tin vệ tinh là một phần của hệ thống thông tin toàn cầu, góp phần truyền tải một lưu lượng dữ liệu lớn không chỉ cho các tín hiệu truyền hình mà còn là tín hiệu di dộng. Việc sử dụng vệ tinh trong thông tin tin liên lạc là một thực tế đang diễn ra trong cuộc sống hàng ngày. Bằng chứng của việc này hiện hữu qua việc giờ đây rất nhiều hộ gia đình lắp đặt các chảo anten vệ tinh hay như các thiết bị di động cầm tay có lắp các thẻ SIM vệ tinh để tiếp nhận tín hiệu và sử dụng các dịch vụ thu được từ vệ tinh. Vì có độ cao lớn so với trái đất nên vệ tinh có một vùng rộng phủ sóng lớn trên bề mặt trái đất.
Vệ tinh giống như một điểm ngôi sao trong thông tin liên lạc để kết nối nhiều người dùng với nhau cùng lúc và những người dùng đó ở các vùng địa lý rất xa nhau. Điều này được chứng minh khi một anten chỉ có vùng bao phủ vài km2 thì vệ tinh viễn thông có vùng bao phủ hàng nghìn km2.Đặc trưng truyền tin này giúp vệ tinh đảm bảo việc cung cấp kết nối thông tin liên lạc cho các vùng cộng đồng xa tại các vùng cư dân thưa thớt và điều này khó thực hiện ở các phương thức truyền tải thông tin khác. Vệ tinh cũng được dùng trong việc viễn thám từ xa, ví dụ như dò thăm dò ô nhiễm nguồn nước cũng như giám sát và báo cáo về tình trạng khí hậu. Một số vệ tinh viễn thám cũng đóng vai trò quan trọng trong việc tìm kiếm và cứu nạn các máy bay bị rơi cũng như các điều khác tương tự Việc phân bổ tần số cho các dịch vụ vệ tinh là một quy trình phức tạp đòi hỏi sự phối hợp và lập kế hoạch quốc tế.
Điều này được thực thi dưới sự bảo trợ của liên minh viễn thông Quốc tế (ITU). Để tạo điều kiện thuận lợi cho việc phân bổ tần số, thế giới được chia làm ba khu vực[1]: - Khu vực 1: Châu âu, Châu Phi và một phần Mông Cổ. - Khu vực 2: Bắc và Nam Mỹ, đảo Greenland. - Khu vực 3: Châu Á, Úc và miền Nam Tây Thái Bình Dương.
Trong các vùng này, các dải tần số được phân bổ cho các dịch vụ vệ tinh khác nhau, mặc dù có thể các dịch vụ này được phân bổ tại các dải tần số khác nhau và tại các vùng khác nhau. Mốt số các dịch vụ được cung cấp bởi vệ tinh là: Luan van 4 - Dịch vụ vệ tinh cố định (FSS) - Dịch vụ vệ tinh phát sóng (BSS) - Dịch vụ vệ tinh di động - Dịch vụ vệ tinh định vị - Dịch vụ vệ tinh khí tượng. Có rất nhiều sự phân chia nhỏ bên trong các dịch vụ vệ tinh như trên, ví dụ như, dịch vụ vệ tinh cố định có thể cung cấp kết nối cho các mạng di động cố định cũng như truyền tín hiệu tivi đến các nhà cung cấp mạng để phân phối trên hệ thống cáp. Dịch vụ vệ tinh quảng bá mục đích chính là phát quảng bá trực tiếp đến các hộ gia đình, thỉnh thoảng được gọi dưới tên dịch vụ quảng bá trực tiếp đến người dùng (DBS – direct to service) và ở Châu âu được gọi dưới tên DTH (direct to home).
Dịch vụ di động bao gồm di động mặt đất, di động hàng hải và di động không gian. Dịch vụ vệ tinh định vị bao gồm có hệ thống định vị toàn cầu (GPS – Global Positioning Service) và các vệ tinh dùng cho hoạt động tìm kiếm, cứu nạn. Tần số của các băng tần chỉ định để sử dụng cho các dịch vụ phổ biến trên vệ tinh được liệt kê trong bảng dưới: Bảng 1-1: Bảng phân bổ tần số quy hoạch vệ tinh theo các băng tần [2] Khoảng tần số (GHz) Băng tần chỉ định 0.0 – 75 V 75 – 110 W Băng tần Ku là một trong các tần số được sử dụng cho dịch vụ quảng bá trực tiếp (DTH) cùng như dịch vụ vệ tinh cố định. Với các dịch vụ quảng bá trực tiếp trên bằng Ku, phần lớn khoảng tần được dùng là xấp xỉ 12 đến 14 GHz, được biểu hiện là 14/12GHz.
Băng tần C được sử dụng cho dịch vụ vệ tinh cố định, các dịch vụ vệ tinh Luan van 5 quảng bá trực tiếp không được phép sử dụng trên băng tần này. Đối với các dịch vụ vệ tinh cố định trên băng C, phần lớn là sử dựng băng tần phụ là xấp xỉ từ 4 đên 6GHz, được biểu thị là 6/4GHz. Băng tần VHF sử dụng cho các dịch vụ di động cố định và dịch vụ định hướng và cho truyền dữ liệu từ vệ tinh thời tiết. Băng tần L được dùng cho dịch vụ vệ tinh di động và hệ thống dẫn đường.
Các hoạt động của vệ tinh viễn thông được chia theo quỹ đạo hoạt động của chúng. Hiện nay, vệ tinh được chia làm 3 quỹ đạo hoạt động chính: - Vệ tinh quỹ đạo thấp (LEO – Low Earth Orbit): hoạt động ở độ cao 320 - 1100 km so với trái đất. - Vệ tinh quỹ đạo trung (MEO – Middle Earth Orbit): hoạt động ở độ cao 8000 - 1200 km so với trái đất. - Vệ tinh quỹ đạo địa tĩnh (GEO - Geostationary Earth Orbit): hoạt động ở độ cao 36.000 km so với trái đất.1: Hình minh họa hoạt động của các quỹ đạo vệ tinh Thời gian về trước, khi so sánh với các dự án thông tin mặt đất thì các dự án vệ tinh thông tin có chi phí lớn hơn về giá trị chi phí triền khai cũng như do một số khó Luan van 6 khăn về mặt công nghệ nên số nước theo đuổi các dự án vệ tinh không nhiều.
Tuy nhiên, với việc phát triển liên tục của khoa học công nghệ thì chi phí triển khai các dự án vệ tinh thông tin đã giảm đi đáng kể. Bên cạnh đó, các vệ tinh thông tin ngoài việc đảm bảo yếu tố duy trì kênh thông tin liên lạc thì nó còn có ý nghĩa trong việc đảm bảo chủ quyền của các nước trên không gian vũ trụ. Do đó, số lượng các nước theo đuổi và triền khai các dự án vệ tinh thông tin ngày càng nhiều. Tổng quan về vệ tinh địa tĩnh băng rộng và thực trạng khai thác vệ tinh địa tĩnh ở Việt Nam 1.
Giới thiệu về vệ tinh địa tĩnh Quỹ đạo địa tĩnh là quỹ đạo tròn ngay phía trên xích đạo Trái Đất (vĩ độ 0º). Bất kỳ điểm nào trên mặt phẳng xích đạo đều quay tròn xung quanh Trái Đất theo cùng một hướng và với cùng một chu kỳ (vận tốc góc) giống như sự tự quay của Trái Đất. Nó là trường hợp đặc biệt của quỹ đạo địa đồng bộ, và là quỹ đạo được những người khai thác hoạt động của vệ tinh nhân tạo ưa thích (bao gồm các vệ tinh viễn thông và truyền hình). Quỹ đạo này qua tính toán có khoảng cách so với trái đất là 36.
Các vị trí vệ tinh sẽ duy trì một vùng bao phủ cố định trên trái đất và chỉ có thể khác nhau theo kinh độ. Ngày nay, có hàng trăm vệ tinh địa tĩnh đang hoạt động trên quỹ đạo, cung cấp các dịch vụ như truyền hình quảng bá, một số thông tin liên lạc tốc độ thấp và các dữ liệu thời tiết. Do các đặc điểm chính của chúng (vị trí cố định trên một điểm trên Trái đất), các vệ tinh này chủ yếu được sử dụng cho các dịch vụ viễn thông (phát sóng truyền hình trực tiếp tại nhà, thoại và internet). Ngoài ra, các vệ tinh địa tĩnh còn được sử dụng cho mục đích quan sát Trái đất (viễn thám) Các tần số phân bổ cho các vệ tinh địa tĩnh là băng tần C và băng tần Ku.
Các dịch vụ quảng bá trực tiếp đến tivi của các hộ người dùng được thực thi trên băng tần Ku (14/12 GHz). Các dịch vụ này còn được gọi là dịch vụ vệ tinh quảng bá trực tiếp (DBS – Direct Broadcast Satellite). Có một số thay đổi nhỏ trong ở các tần số được phân bổ sẽ tùy theo các vùng địa lý khác nhau. Băng tần C không được sử dụng hướng đến các đối tượng người dùng cá nhân mà được sử dụng giống như mạng chuyển tiếp để truyền tải truyền thông tin giữa các đài phát tivi thương mại (bao gồm: các trạm phát tivi quảng bá sử dụng băng tần UHF và VHF, các studio đầu-cuối truyền hình cáp).
Sự khác nhau chính giữa các hệ thống thu băng tần C và băng tần Ku nằm ở tần Luan van 7 số hoạt động của các thiết bị ngoài trời (kích cỡ anten thu, bộ khuếch đại tạp âm thấp…). Một ví dụ về chu trình truyền tải tín hiệu truyền hình của vệ tinh được mô tả như trong hình minh họa: tín hiệu truyền hình dược điều chế tại các trạm phát sóng của đài truyền hình, sau đó qua hệ thống anten phát lên vệ tinh. Các bộ phát đáp của vệ tinh tiếp nhận, khuếch đại tín hiệu truyền hình và sử dụng hệ thống anten của phân hệ tải tin thực hiện phát xuống vùng che phủ mặt đất. Các hộ thuê bao trong vùng bao phủ sẽ sử dụng các anten thu có kích cỡ nhỏ để tiếp nhận và giải điều chế tín hiệu trước khi đưa đến các tivi.2: Minh họa về các dịch vụ vệ tinh DBS và DTH 1.
Thực trạng khai thác vệ tinh địa tĩnh băng rộng tại Việt Nam: Các vệ tinh địa tĩnh của Việt Nam lần lượt được phóng lên quỹ đạo và đưa vào khai thác trong các năm 2008 (Vinasat-1) và 2012 (Vinasat-2). Các vệ tinh này được sản xuất bởi hãng Lockheed Martin (Mỹ) và có tuổi thọ thiết kế dự kiến là 15 - 20 năm[3]. Vệ tinh Vinasat-1 được thiết kế để cung cấp tuyến lên và tuyến xuống với vùng bao phủ là các khách hàng tại Việt Nam, Lào, Campuchia, Thái Lan và một phần Myanma. Vệ tinh được đặt tại quỹ đạo địa tĩnh với kinh độ 132o Đông.
Phân hệ truyền tải tin của Vinasat-1 bao gồm: 12 kênh băng C, 10 kênh 36MHz và 2 kênh 72MHz, tần số tuyến lên 6430 – 6720 MHz và tần số tuyến xuống 3405 – 3695 MHz; 12 kênh Luan van 8 băng Ku có băng thông 36MHz với tần số tuyến lên từ 13.5 GHz và tần số tuyến xuống từ 10. Các bộ phát đáp trên vệ tinh sử dụng công nghệ khuếch đại tuyến tính đèn sóng chạy (TWTA) [4].