chương I Tiện truyền thống trên máy tiện vạn năng và công thông thường là một phương pháp cho năng suất cao nhưng chất lượng bề mặt và độ chính xác gia công không cao. Do vậy các phương pháp này chỉ dùng để gia công thô và bán tinh để gia công các chi tiết có hình dáng đơn giản. Hiện nay với sự phát triển của kỹ thuật CNC và các loại vật liệu dụng cụ cắt mới cho năng suất và chất lượng cao. Ta có thể gia công tinh đạt độ chính xác và chất lượng bề mặt cao mà không cần phải qua nguyên công mài.
Điều đặc biệt hơn nữa là ta có thể gia công chi tiết có biên dạng phức tạp, biên dạng hình chỏm cầu mà không cần phải dưỡng. Tiện cứng là một phương pháp tiện tiên tiến cho độ chính xác và chất lượng bề mặt cao thường được sử dụng để tiện tinh các bề mặt thép hợp kim đã qua tôi. Do vậy hướng nghiên cứu của đề tài“Xây dựng mô hình dự đoán nhám bề mặt và mọn dụng cụ khi tiện cứng thép X12M bằng dụng cụ cắt CBN” là rất cần thiết để góp phần nâng cao chất lượng và độ chính xác gia công cứng thép hợp kim đã qua tôi. Qua đó góp phần tạo nên nền sản xuất công nghiệp bền vững.
c 12 CHƯƠNG II CHẤT LƯỢNG BỀ MẶT VÀ MÒN DỤNG CỤ KHI TIỆN CỨNG 2. Chất lượng bề mặt khi tiện cứng 2.1 Khái niệm chung về lớp bề mặt Bề mặt là sự phân cách giữa hai môi trường khác nhau. Bề mặt kim loại có thể được tạo thành bằng các phương pháp gia công khác nhau nên có cấu trúc và đặc tính khác nhau. Để xác định được đặc trưng của lớp bề mặt ta cần biết mô hình và định luật của kim loại nguyên chất không có tương tác với môi trường khác và sự khác nhau về sự sắp xếp các nguyên tử, tác dụng của lực trên bề mặt so với bên trong.
Sau đó nghiên cứu sự thay đổi của lớp bề mặt do tác động của môi trường để thiết lập khái niệm mô hình bề mặt thực. Nhiều tính chất khối của vật liệu có liên quan đến bề mặt ở mức độ khác nhau. Thường các tính chất hoá, lý của lớp bề mặt là quan trọng. Tuy nhiên, các đặc trưng cơ học như độ cứng và phân bố ứng suất trong lớp này cũng được quan tâm [26].2 Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng lớp bề mặt sau gia công cơ.
*Độ nhám bề mặt và phương pháp đánh giá -Độ nhám bề mặt hay còn goi là độ nhấp nhô tế vi là tập hợp tất cả các bề mặt lồi lõm với bước cực nhỏ và được quan sát trong phạm vi chiều dài chuẩn rất ngắn [27]. Chiều dài chuẩn L là chiều dài để đánh giá các thông số của độ nhám bề mặt (l=0. Độ nhám bề mặt gia công đã được phóng đại lên nhiều lần thể hiện trên hình 2.1 Ðộ nhám bề mặt Theo tiêu chuẩn TCVN 2511-1995 thì nhám bề mặt được đánh giá thông qua bảy chỉ tiêu. Thông thường người ta chỉ dung hai chỉ tiêu.
Đó là: Ra và Rz. c 13 Trong đó: +Ra là sai lệch trung bình số học của profin, là trung bình số học các giá trị tuyệt đối của sai lệch profin(y) trong khoảng chiều dài chuẩn. Sai lệch profin(y) là khoảng cách từ các điểm trên đường profin đến đường trung bình đo theo phương pháp tuyến tới đường trung bình. Đường trung bình (m) là đường chia profin bề mặt sao cho trong phạm vi chiều dài chuẩn l tổng diện tích hai phía của đường chuẩn bằng nhau.R a được xác định theo công thức Ra= = +Rz là chiều cao nhấp nhô profin theo mười điểm, là trị số trung bình của tổng các giá trị tuyệt đối của chiều cao năm đỉnh cao năm đỉnh cao nhất và năm đáy thấp nhất của profin trong chiều dài chuẩn l.
Rz được xác định theo công thức. Rz= Ngoài ra độ nhám bề mặt được đánh giá qua chiều cao nhấp nhô lớn nhất R max. Chiều cao nhấp nhô Rmax là khoảng cách giữa hai đỉnh cao nhất và thấp nhất của nhám (profin bề mặt trong giới hạn chiều dài chuẩn l) Cũng theo tiêu chuẩn TCVN 2511-1995 thì độ nhám bề mặt được chia làm 14 cấp, từ cấp 1 đến cấp 14 với các giá trị Ra,Rz. Trị số nhám càng bé thì bề mặt càng nhẵn và ngược lại.
Độ nhám bề mặt thấp nhất hay độ bóng bề mặt cao nhất ứng với cấp 14(tương ứng với Ra ). Việc chọn chỉ tiêu Ra hay Rz là tuỳ thuộc vào chất lượng yêu cầu của bề mặt. Chỉ tiêu Ra được gọi là thông số ưu tiên và được sử dụng phổ biến nhất do nó cho phép đánh giá chính xác và thuận tiện hơn những bề mặt có ưu cầu độ nhám trung bình (độ nhám từ cấp 6÷12). Đối với những bề mặt có độ nhám quá thô (từ cấp 1÷5) và rất tinh (cấp 13,14) thì dùng chỉ tiêu Rz sẽ cho ta khả năng đánh giá chính xác hơn khi dùng Ra (Bảng 2.1) c 14 Cấp độ Thông số nhám(µm) Chiều dài Nhám bề Loại Ra Rz chuẩn(mm) mặt 1 Từ 320 đến 160 8,0 2 <160-80 3 <80-40 4 <40-20 5 <20-10 2,5 a Từ 2,5 đến 2,0 6 b <2,0 đến1,6 c <1,6 đến 1,25 a <1,25 đến1,0 7 b <1,00 đến 0,80 c <0,80 đến 0,63 a <0,63 đến 0,50 8 b <0,50 đến 0,40 0,8 c <0,40 đến 0,32 a <0,32 đến 0,25 9 b <0,25 đến 0.20 đến 0,16 a <0,16 đến 0,125 10 b <0,125 đến 0,100 c <0,100 đến 0,080 a <0,080 đến 0,063 11 b <0,063 đến 0,050 c <0,050 đến 0,040 a <0,040 đến 0,032 12 b <0,032 đến 0,025 c <0,025 đến 0,020 0,25 Từ 0,100 đến 13 a 0,080 c 15 b <0,080 đến 0,063 c <0,063 đến 0,050 14 a <0,050 đến 0,040 0.08 b <0,040 đến 0,032 c <0,032 đến 0,025 Bảng 2-1 Các giá trị Ra và Rz theo chiều dài chuẩn l ứng với cấp độ nhám bề mặt.
Trong thực tế sản xuất nhiều khi người ta đánh giá độ nhám bề mặt theo các mức độ thô (cấp 1÷4), bán tinh (5÷7), tinh (8÷11) và siêu tinh (12÷14). Theo Bama[6,7] thông thường tiện cứng đạt cấp chính xác dung sai IT cấp 5÷7 với độ nhám bề mặt Rz = 2÷4µm. Trong điều kiện gia công tốt cấp chính xác dung sai IT đạt cấp 3÷5 và độ nhám bề mặt 1,5µm. -Phương pháp đánh giá độ nhám bề mặt Để đánh giá độ nhám bề mặt người ta thường dùng các phương pháp sau: +Phương pháp quang học(Dùng kính hiển vi Linich).
Phương pháp này đo được bề mặt có độ nhẵn cao thường từ cấp 10 đến cấp 14. +Phương pháp đo độ nhám Ra,Rz,Rmax… bằng máy đo profin. Phương pháp này sử dụng mũi dò để đo profin lớp bề mặt có cấp độ nhẵn đến cấp 11. Đây chính là phương pháp được tác giả sử dụng để đánh giá độ nhám bề mặt khi tiện cứng.
Tuy nhiên với các bề mặt lỗ thường phải in bằng chất dẻo bề mặt chi tiết rồi mới đo bảng in trên các máy đo độ nhám bề mặt. +Phương pháp so sánh có thể so sánh theo 2 cách So sánh bằng mắt: Trong các phân xưởng sản xuất người ta mang vật mẫu so sánh với bề mặt gia công và kết luận xem bề mặt gia công đạt cấp độ nào. Tuy nhiên phương pháp này chỉ cho phép xác định được cấp độ bóng từ cấp 3 đến cấp 7 và có độ chính xác thấp, phương pháp này phụ thuộc rất nhiều vào kinh nghiệm của người thực hiện. So sánh bằng kính hiển vi quang học.
*Độ sóng bề mặt: Chu kì không bằng phẳng của chi tiết gia công được quan sát trong phạm vi khoảng lớn tiêu chuẩn(từ 1 đến 10mm) được gọi là độ sóng bề mặt. Nguyên nhân xuất hiện độ sóng bề mặt là do rung động của hệ thống công nghệ. Do quá trình cắt liên tục, c 16 độ đảo của dụng cụ cắt… Thông thường độ sóng bề mặt xuất hiện khi gia công các chi tiết có kích thước vừa và lớn bằng các phương pháp tiện, phay,mài… Trong tiện tinh chiều sâu cắt nhỏ thông thường từ 0,1 đến 0,5mm và tiện chính xác thì chiều sâu cắt nằm trong khoảng từ 0,02 đến 0,3mm. Do đó lực cắt sẽ không cao, đồng thời yêu cầu độ cứng vững công nghệ cao dẫn đến rung động nhỏ.
Do đó độ sóng bề mặt nhỏ. Vì vậy đề tài không đánh giá độ sóng bề mặt. *Tính chất cơ lý của lớp bề mặt sau gia công cơ. -Hiện tượng biến cứng của lớp bề mặt.
Mức độ biến Chiều sâu lớp Phương pháp gia công cứng (%) biếncứng (µm) Tiện thô 120÷150 30÷50 Tiện tinh 140÷180 20÷60 Phay bằng dao phay mặt đầu 140÷160 40÷100 Phay bằng dao phay trụ 120÷140 40÷80 Khoan và khoét 160÷170 180÷200 Doa 150÷160 150÷200 Chuốt 150÷200 20÷75 Phay lăn răng và xọc răng 160÷200 120÷200 Cà răng 120÷180 80÷100 Mài tròn thép chưa nhiệt luyện 140÷160 30÷60 Mài tròn thép ít các bon 160÷200 30÷60 Mài tròn ngoài các thép sau nhiệt luyện 125÷130 20÷40 Mài phẳng 150 16÷25 Bảng 2.2 Mức độ và chiều sâu lớp biến cứng của các phương pháp gia công Trong quá trình gia công cơ, dưới tác dụng của lực cắt, mạng tinh thể của lớp kim loại bị xô lệch và biến dạng dẻo ở vùng trước và sau lưỡi cắt. Phôi được tạo ra do biến dạng dẻo của kim loại trong vùng trượt. Trong vùng cắt thể tích riêng của kim loại tăng còn mật độ kim loại giảm làm xuất hiện ứng suất. Khi đó nhiều tính chất của lớp kim loại bề mặt bị thay đổi như giới hạn bền, độ cứng, độ giòn được nâng cao đồng thời tính dẻo dai giảm…Kết quả là lớp bề mặt kim loại bị cứng nguội và có độ cứng tế vi rất cao.
Mức độ biến cứng và chiều sâu lớp biến cứng phụ thuộc vào các phương pháp gia công cơ và các thông số hình học của dao. Cụ thể là phụ thuộc vào c 17 lực cắt, mức độ biến dạng dẻo của kim loại và nhiệt trong vùng cắt. Lực cắt làm cho mức độ biến dạng dẻo tăng, kết quả là chiều sâu lớp biến cứng và biến cứng bề mặt tăng. Nhiệt sinh ra trong vùng cắt sẽ hạn chế sự biến cứng lớp bề mặt.
Như vậy mức độ biến cứng của lớp bề mặt phụ thuộc vào tỷ lệ tác động giữa 2 yếu tố. Đó là: Lực cắt và nhiệt cắt sinh ra trong vùng cắt. Khả năng tạo ra mức độ và chiều sâu lớp biến cứng lớp bề mặt của các phương pháp gia công cơ khác nhau được thể hiện trên bảng 2.2 Qua nghiên cứu bằng mô hình nhiệt cắt đồng thời tiến hành thực nghiệm nghiên cứu ảnh hưởng của bán kính mũi dao đến chiều sâu lớp biến cứng(lớp trắng) trong tiện cứng của Kevin Chou [17] và Huisong[18].