Tổng quan nghiên cứu

Lưu vực sông Kôn – Hà Thanh có diện tích tự nhiên khoảng 3.809 km2, là trung tâm kinh tế, văn hóa và chính trị trọng điểm của tỉnh Bình Định khi chiếm tới 90% diện tích lưu vực toàn tỉnh. Toàn bộ hệ thống sông hiện có 44 hồ chứa thủy lợi, thủy điện với tổng dung tích khoảng 165,18 triệu m3 nước, 44 đập dâng và 31 trạm bơm phục vụ tưới tiêu cho hơn 50.000 ha đất canh tác. Tuy nhiên, lưu vực thường xuyên đối mặt với hiểm họa lũ lụt đặc biệt nghiêm trọng. Trong các đợt lũ lớn, vùng chuyển tiếp giữa đồng bằng và đồi núi ngập sâu từ 0,5m đến 2,0m, khu vực hạ lưu ngập từ 2,5m đến 6,0m, thậm chí tại thôn Đại An và vùng ven Đầm Thị Nại mức ngập ghi nhận vượt quá 8,0m. Đỉnh lũ lịch sử quan trắc tại trạm Bình Tường từng chạm mốc 6.340 m3/s vào ngày 19/11/1987, gây thiệt hại nặng nề về người và tài sản.

Trước yêu cầu cấp bách về phòng chống thiên tai và thực thi Quyết định số 1879/QĐ-TTg ngày 13/10/2010 của Thủ tướng Chính phủ về Quy trình vận hành liên hồ chứa, công tác dự báo thủy văn tại địa phương bộc lộ nhiều hạn chế lớn. Phần lớn các công cụ dự báo truyền thống chỉ dựa trên phương pháp tra biểu đồ kinh nghiệm và thống kê tương quan, thời gian dự kiến ngắn chỉ từ 6 đến 12 giờ với tỷ lệ chính xác tại trạm Thạnh Hòa chỉ dao động trong khoảng 70% đến 75%.

Mục tiêu cốt lõi của nghiên cứu là xây dựng và ứng dụng bộ mô hình toán học tích hợp công nghệ cao nhằm dự báo chính xác dòng chảy lũ đến các hồ chứa và diễn toán dòng chảy hạ lưu. Nghiên cứu tập trung vào phạm vi không gian lưu vực sông Kôn – Hà Thanh, phân tích chuỗi dữ liệu thủy văn nhiều năm để kéo dài thời gian dự báo trước từ 12 đến 24 giờ, đạt cấp độ chuẩn xác theo Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia QCVN 18:2008/BTNMT, qua đó nâng cao hiệu quả quản lý vận hành liên hồ chứa và giảm thiểu tối đa rủi ro ngập lụt hạ du.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng tích hợp giữa lý thuyết mô hình hóa thủy văn mưa – dòng chảy và lý thuyết thủy lực dòng chảy không ổn định trong mạng lưới sông hở.

Thứ nhất, mô hình thủy văn MIKE NAM được ứng dụng dựa trên nguyên lý cân bằng nước liên tục và cấu trúc phân tầng các bể chứa ẩm theo phương thẳng đứng. Cấu trúc mô hình gồm năm bể chứa thành phần: bể chứa bề mặt, bể tầng rễ cây, bể chứa ngầm cạn, bể chứa ngầm sâu và bể tuyết tích trữ. Mô hình chuyển hóa lượng mưa lưu vực thành dòng chảy thông qua các hàm phi tuyến biểu diễn dòng chảy mặt, dòng chảy sát mặt và dòng chảy ngầm.

Thứ hai, mô hình thủy lực MIKE 11 HD ứng dụng hệ phương trình Saint-Venant một chiều đầy đủ bao gồm phương trình liên tục và phương trình động lực nhằm mô tả chính xác chuyển động sóng lũ phi định hình. Hệ phương trình được giải tích số bằng sơ đồ sai phân hữu hạn sáu điểm ẩn Abbott-Ionescu, cho phép tính toán ổn định và chính xác mực nước cùng lưu lượng tại từng nút mạng lưới sông có phân lưu và nhập lưu phức tạp.

Các khái niệm then chốt xuyên suốt nghiên cứu bao gồm: Mực nước dâng bình thường (MNDBT), Mực nước chết (MNC), Dung tích phòng lũ, Hệ số hiệu quả mô hình Nash-Sutcliffe (NSE) và Sai số dự báo cho phép theo quy chuẩn ngành.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của đề tài được thu thập toàn diện từ chuỗi số liệu quan trắc khí tượng – thủy văn liên tục 37 năm (giai đoạn 1976 – 2012) tại 11 trạm khí tượng, đo mưa (như Quy Nhơn, Hoài Nhơn, Vĩnh Kim, Vĩnh Sơn, Vân Canh) và 6 trạm thủy văn chủ lực (Bình Tường/Bình Nghi, Vĩnh Sơn, Thạnh Hòa, Diêu Trì).

Về cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu, nghiên cứu chọn lọc toàn bộ chuỗi số liệu đo đạc nhiều năm để phân tích tần suất dòng chảy lũ thiết kế kết hợp chọn mẫu điển hình các trận lũ lớn trong lịch sử (năm 1987, 1998, 2009, 2010, 2011, 2012) và trận lũ kiểm nghiệm thực tế tháng 11/2013.

Lý do lựa chọn phương pháp phân tích mô hình số tích hợp hệ thống thông tin địa lý (GIS): Công cụ ArcView GIS cho phép số hóa địa hình, phân chia lưu vực sông Kôn thành 26 tiểu lưu vực bộ phận và tính toán lượng mưa bình quân không gian chính xác. Mô hình MIKE NAM xử lý triệt để tính chất phân bố không đồng đều của mưa và thổ nhưỡng vùng đồi núi, trong khi MIKE 11 HD giải quyết tối ưu bài toán truyền lũ qua mạng lưới sông hạ du chịu ảnh hưởng thủy triều vịnh Quy Nhơn và Đầm Thị Nại rộng hơn 5.000 ha.

Tiến trình nghiên cứu được triển khai chặt chẽ qua ba giai đoạn: xử lý chuỗi số liệu và hiệu chỉnh thông số mô hình với số liệu mùa lũ 2009 – 2010, kiểm định bộ thông số với mùa lũ 2011 – 2012, và chạy dự báo kiểm nghiệm thời gian thực cho trận lũ tháng 11/2013.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Quá trình phân tích thống kê và mô phỏng số trị đã mang lại ba phát hiện khoa học quan trọng:

Thứ nhất, chế độ dòng chảy lũ trên lưu vực sông Kôn – Hà Thanh có mức độ biến động cực đoan rất cao. Dòng chảy mùa lũ tập trung từ tháng IX đến tháng XII, chiếm từ 70% đến 77% tổng lượng dòng chảy cả năm (đạt 3,41 tỷ m3 đối với sông Kôn). Lưu lượng đỉnh lũ lớn nhất quan trắc được tại Bình Tường là 6.340 m3/s (năm 1987) với mô số đỉnh lũ đạt 3,36 m3/s/km2, gấp tới 60 lần lưu lượng đỉnh lũ của năm lũ nhỏ nhất (năm 1982 với Qmax chỉ 106 m3/s). Ngược lại, vào mùa kiệt, lưu lượng nhỏ nhất tại trạm này từng hạ xuống mức 1,1 m3/s vào ngày 30/04/1983.

Thứ hai, việc ứng dụng mô hình MIKE NAM mô phỏng dòng chảy đến hồ và các khu giữa đạt độ chính xác rất cao. Kết quả hiệu chỉnh và kiểm định dòng chảy tại trạm thủy văn Bình Nghi cho thấy hệ số Nash-Sutcliffe trong các mùa lũ 2009, 2010, 2011 và 2012 đều duy trì ở mức cao từ 0,82 đến 0,88; sai số lưu lượng đỉnh lũ dưới 7,8% và sai số tổng lượng dòng chảy dao động dưới 8,5%.

Thứ ba, mô hình MIKE 11 HD diễn toán mực nước lũ hạ du tại trạm Bình Nghi và Thạnh Hòa đạt chuẩn kiểm định xuất sắc với hệ số Nash đạt từ 0,81 đến 0,87. Khi dự báo kiểm nghiệm trận lũ lịch sử tháng 11/2013, tỷ lệ các lần dự báo đạt loại Tốt và Khá theo QCVN 18:2008/BTNMT đạt tới 86,7%, kéo dài thời gian dự kiến cảnh báo lũ từ 6 – 12 giờ lên mức 12 – 24 giờ.

Thảo luận kết quả

Cơ chế lũ lụt nghiêm trọng ở hạ lưu sông Kôn bắt nguồn từ sự phân nhánh dòng chảy phức tạp (gồm sông Đập Đá, sông Gò Chàm, sông Sây) chảy dồn về Đầm Thị Nại nơi có cửa thoát Giã hẹp, kết hợp triều cường dâng cao ngăn cản khả năng thoát lũ tự nhiên.

Dữ liệu mô phỏng vận hành liên hồ chứa được trực quan hóa rõ ràng qua bảng quan hệ cao trình – dung tích (đường đặc tính Z-W) và biểu đồ đường quá trình lưu lượng xả lũ Q(t) của bốn hồ trọng điểm: hồ Định Bình (dung tích 226 triệu m3), hồ Núi Một (dung tích 111 triệu m3), hồ Vĩnh Sơn A (43 triệu m3) và hồ Thuận Ninh (35,36 triệu m3). Biểu đồ đối chiếu quá trình mực nước thực đo và tính toán tại trạm Thạnh Hòa khẳng định việc vận hành liên hồ hợp lý giúp cắt đỉnh lũ hạ du từ 0,35m đến 0,80m.

So với các nghiên cứu trước đây vốn chỉ sử dụng phương pháp mực nước tương quan một chiều với độ chính xác dưới 75%, phương pháp liên hoàn MIKE NAM – MIKE 11 tích hợp cân bằng hồ chứa đã gia tăng độ tin cậy thêm 12% đến 15%, giảm thời gian trễ số liệu và cung cấp đầy đủ bức tranh ngập lụt theo thời gian thực.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm hoàn thiện công tác quản lý rủi ro thiên tai và nâng cao hiệu lực vận hành liên hồ chứa, luận văn đề xuất bốn nhóm giải pháp hành động cụ thể:

Thứ nhất, hiện đại hóa và tự động hóa mạng lưới quan trắc khí tượng – thủy văn chuyên dùng. Triển khai lắp đặt bổ sung 15 trạm đo mưa tự động và 6 trạm quan trắc mực nước tự động truyền dữ liệu telemetry thời gian thực trên các khu vực đầu nguồn sông Kôn và sông Hà Thanh. Thời gian thực hiện trong 12 tháng do Đài Khí tượng Thủy văn khu vực Nam Trung Bộ chủ trì, nhằm giảm sai số ước lượng mưa bình quân lưu vực xuống dưới 5%.

Thứ hai, chuẩn hóa và số hóa quy trình vận hành liên hồ chứa phục vụ cắt lũ và cấp nước mùa cạn. Xây dựng công cụ phần mềm hỗ trợ ra quyết định (DSS) tích hợp mô hình MIKE NAM – MIKE 11 trực tiếp vào trung tâm điều hành SCADA của các hồ lớn (Định Bình, Núi Một, Trà Xom 1, Vĩnh Sơn, Thuận Ninh). Thời gian triển khai trong 18 tháng do Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cùng Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bình Định thực hiện, đặt mục tiêu nâng cao dung tích phòng lũ chủ động thêm 10% đến 15%.

Thứ ba, xây dựng hệ thống bản đồ số cảnh báo ngập lụt động trực tuyến vùng hạ lưu. Ứng dụng kết quả diễn toán thủy lực để xuất bản đồ ngập lụt theo các cấp báo động lũ tỷ lệ 1:10.000 cập nhật định kỳ 3 giờ/lần trong suốt mùa mưa bão. Thời gian hoàn thiện trong 24 tháng do Ban Chỉ huy Phòng chống thiên tai và Tìm kiếm cứu nạn tỉnh Bình Định vận hành, nhằm kéo dài thời gian sơ tán dân cư trước lũ lên tối thiểu 18 giờ, giảm thiểu trên 30% thiệt hại tài sản dân sinh.

Thứ tư, đào tạo và nâng cao năng lực ứng dụng mô hình số cho đội ngũ kỹ sư vận hành địa phương. Tổ chức 4 khóa tập huấn chuyên sâu về kỹ thuật hiệu chỉnh thông số mô hình và xử lý dữ liệu viễn thám GIS cho 100% cán bộ kỹ thuật quản lý đập và trạm thủy văn trên địa bàn tỉnh trong giai đoạn 2026 – 2027 do Trường Đại học Thủy lợi phối hợp đào tạo.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và kết quả của luận văn mang lại giá trị thực tiễn và học thuật sâu sắc cho bốn nhóm đối tượng:

Thứ nhất, các chuyên viên dự báo khí tượng thủy văn tại các đài khu vực và trung tâm cảnh báo thiên tai. Luận văn cung cấp tài liệu tham khảo chuẩn mực về quy trình thiết lập, hiệu chỉnh và kiểm định bộ thông số MIKE NAM kết hợp MIKE 11 HD trên các lưu vực sông ngắn, dốc đặc trưng của miền Trung, giúp nâng cao độ chính xác trong nghiệp vụ dự báo tác nghiệp mùa lũ.

Thứ hai, các đơn vị quản lý, khai thác công trình thủy lợi và các nhà máy thủy điện (như Ban Quản lý Đầu tư và Xây dựng Thủy lợi 7, Công ty Khai thác Công trình Thủy lợi Bình Định, Thủy điện Vĩnh Sơn – Sông Hinh). Tài liệu giúp các kỹ sư nắm vững phương pháp tính toán cân bằng nước hồ chứa và điều tiết lưu lượng xả lũ tối ưu theo đúng Quyết định số 1879/QĐ-TTg.

Thứ ba, các cơ quan quản lý nhà nước về tài nguyên nước và Ban Chỉ huy Phòng chống thiên tai các cấp. Kết quả mô phỏng ngập lụt là cơ sở khoa học tin cậy để các nhà hoạch định chính sách xây dựng phương án di dân, quy hoạch hạ tầng đô thị, đê điều và phân vùng rủi ro thiên tai trên địa bàn 3.809 km2 của tỉnh Bình Định.

Thứ tư, học viên cao học, nghiên cứu sinh và giảng viên chuyên ngành Kỹ thuật tài nguyên nước, Thủy văn học. Công trình là case-study thực chứng mẫu mực về phương pháp kết hợp dữ liệu quan trắc nhiều năm (37 năm) với các công cụ mô hình hóa số trị hiện đại trong giải quyết bài toán vận hành liên hồ chứa đa mục tiêu.

Câu hỏi thường gặp

Tại sao lưu vực sông Kôn – Hà Thanh lại có nguy cơ ngập lụt đặc biệt nghiêm trọng trong mùa mưa lũ?

Lưu vực có địa hình vùng núi dốc mạnh, sông ngắn khiến lũ tập trung rất nhanh trong 3 đến 5 ngày. Lượng mưa mùa mưa từ tháng IX đến XII chiếm tới 70% đến 77% tổng lượng cả năm, tạo ra các trận lũ lịch sử với lưu lượng đỉnh lên tới 6.340 m3/s. Hạ lưu sông Kôn phân thành nhiều nhánh đổ dồn về Đầm Thị Nại có diện tích hơn 5.000 ha nhưng cửa thoát ra biển hẹp, gây dồn ứ nước và làm ngập sâu trên 8m tại các vùng trũng.

Mô hình thủy văn MIKE NAM đóng vai trò gì trong bài toán dự báo lũ đến hồ chứa?

Mô hình MIKE NAM mô phỏng quá trình chuyển hóa mưa thành dòng chảy dựa trên 5 bể chứa độ ẩm tương tác thẳng đứng. Bằng việc phân chia lưu vực thành 26 tiểu lưu vực qua GIS, mô hình tính toán chính xác dòng chảy gia nhập khu giữa và dòng chảy lũ đến các hồ chứa Định Bình, Núi Một với hệ số Nash đạt từ 0,82 đến 0,88, giữ sai số tổng lượng dòng chảy luôn dưới 8,5%.

Mô hình thủy lực MIKE 11 HD giải quyết thách thức gì tại mạng lưới sông hạ du sông Kôn?

MIKE 11 HD giải hệ phương trình Saint-Venant bằng sơ đồ sai phân ẩn 6 điểm Abbott-Ionescu, cho phép mô phỏng chính xác chế độ chảy không ổn định trên mạng lưới sông phân lưu phức tạp gồm sông Đập Đá, Gò Chàm, sông Sây và ảnh hưởng triều truyền ngược từ vịnh Quy Nhơn. Kết quả kiểm định tại trạm Bình Nghi và Thạnh Hòa đạt hệ số Nash trên 0,81, phản ánh chính xác mực nước thực tế.

Việc liên kết vận hành các hồ chứa trên lưu vực sông Kôn được tính toán như thế nào?

Nghiên cứu tích hợp điều tiết liên hồ chứa cho 4 công trình lớn gồm hồ Định Bình (226 triệu m3), Núi Một (111 triệu m3), Trà Xom 1 (39,5 triệu m3) và Thuận Ninh (35,36 triệu m3). Quá trình xả lũ được kiểm soát theo đường đặc tính Z-W và quy tắc cân bằng nước từng thời đoạn, giúp cắt giảm đỉnh lũ hạ du từ 0,35m đến 0,80m và bảo đảm an toàn tuyệt đối cho đập.

Độ tin cậy của phương án dự báo lũ trong luận văn được đánh giá theo tiêu chuẩn nào?

Toàn bộ kết quả dự báo được đánh giá nghiêm ngặt theo Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia QCVN 18:2008/BTNMT dựa trên tỷ lệ sai số dự báo so với sai số cho phép. Thử nghiệm trên trận lũ tháng 11/2013 chứng minh 86,7% các lần dự báo đạt xếp loại Tốt và Khá, kéo dài thời gian dự kiến cảnh báo lũ lên 12 đến 24 giờ so với mức 6 đến 12 giờ của phương pháp truyền thống.

Kết luận

  • Xây dựng thành công hệ thống mô hình tích hợp công nghệ cao gồm mô hình thủy văn MIKE NAM và mô hình thủy lực MIKE 11 HD kết hợp công nghệ GIS trên toàn bộ lưu vực 3.809 km2 sông Kôn – Hà Thanh.
  • Nâng cao chất lượng dự báo dòng chảy lũ với hệ số Nash đạt mức cao từ 0,81 đến 0,88 và tỷ lệ dự báo đạt loại Tốt – Khá theo QCVN 18:2008/BTNMT lên đến 86,7%.
  • Mở rộng thời gian dự kiến cảnh báo lũ từ 6 – 12 giờ lên mức 12 – 24 giờ, tạo tiền đề chủ động sơ tán dân cư và điều tiết xả lũ an toàn hạ du.
  • Thiết lập quy trình vận hành liên hồ chứa khoa học cho hệ thống 4 hồ chứa trọng điểm với tổng dung tích phòng lũ và tích trữ trên 410 triệu m3 nước.
  • Đóng góp luận cứ khoa học thực tiễn vững chắc phục vụ triển khai Quyết định 1879/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về vận hành liên hồ chứa trên địa bàn tỉnh Bình Định.

Đóng góp chính của luận văn là đã chuyển đổi thành công phương thức dự báo lũ từ kinh nghiệm thống kê thủ công sang công nghệ số mô hình hóa thủy văn – thủy lực liên hoàn thời gian thực. Kế hoạch tiếp theo trong giai đoạn 2026 – 2028 là tích hợp các sản phẩm dự báo mưa định lượng số trị (NWP) và viễn thám radar để kéo dài thời gian dự báo lũ lên 48 đến 72 giờ.

Các cơ quan quản lý, viện nghiên cứu và đơn vị vận hành hồ chứa hãy nhanh chóng tiếp cận và ứng dụng khung giải pháp mô hình số của luận văn để nâng cao năng lực quản trị nguồn nước và chủ động phòng ngừa rủi ro thiên tai bền vững.