Chương 1: Tổng quan Sinh viên giới thiệu mục tiêu đề tài, về tình hình nghiên cứu trong nước , đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu. Chương 2: Cơ sở lý thuyết 3 Luan van GVHD: TS Lê Mỹ Hà Tìm hiểu tổng quan về mô hình hệ thống cân bằng giữa bóng và mặt phẳng, xây dựng mô hình hóa hệ thống, các lý thuyết về hình ảnh, các thuật toán xử lý ảnh để nhận dạng, lý thuyết điều khiển PID. Chương 3: Ứng dụng mô hình Trong chương này, sinh viên sẽ tìm hiểu các ứng dụng cơ sở lý thuyết vào mô hình điều khiển sự cân bằng giữa bóng và mặt phẳng. Chương 4: Mô hình phần cứng và kết quả thực nghiệm Xây dựng kết cấu phần cứng bao gồm phần thiết kế cơ khí cho mô hình, các khối điều khiển, truyền nhận tín hiệu điều khiển, xử lý ảnh.
Chương 5: Kết luận và hướng phát triển Tóm tắt các kết quả đạt được và những hạn chế của đề tài, đề xuất hướng phát triển trong tương lai của đề tài. 4 Luan van GVHD: TS Lê Mỹ Hà CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2.1 SƠ LƯỢC VỀ MÔ HÌNH CÂN BẰNG GIỮA BÓNG VÀ MẶT PHẲNG Ball and Plate balance system là tên gọi tiếng anh của mô hình hệ thống cân bằng giữa bóng và mặt phẳng. Sự chuyển động của chúng được thực hiện bởi 2 hay nhiều động cơ tác động vào mặt phẳng. Người ta có thể dùng camera, mặt phẳng cảm biến để định vị quả bóng, tạo tín hiệu hồi tiếp về cho vi điều khiển.
Sau đó vi điều khiển điều khiển động cơ để cân bằng quả bóng. Một số hình ảnh về mô hình hệ thống cân bằng giữa bóng và mặt phẳng (hình 2.1: Ball and Plate sử dụng mặt phẳng cảm biến để định vị từ tác giả Shorya Awtar, 2002 5 Luan van GVHD: TS Lê Mỹ Hà Hình 2.2: Ball and Plate sử dụng camera để định vị từ Intrument Techno Test.3: Ball and Plate sử dụng 3 động cơ từ Full Motion Dynamic. Ở nước ngoài, mô hình điều khiển sự cân bằng giữa bóng và mặt phẳng được rất nhiều giảng viên, nghiên cứu sinh nghiên cứu và phát triển. Ứng dụng mô hình trong việc giảng dạy, nghiên cứu.2 MÔ HÌNH HÓA HỆ THỐNG 6 Luan van GVHD: TS Lê Mỹ Hà 2.1 Phương trình động học phi tuyến của hệ thống Về cơ bản, mô hình cân bằng giữa bóng và mặt phẳng được phát triển từ mô hình cân bằng giữa bóng và thanh.
Mô hình cân bằng giữa bóng và thanh chỉ đáp ứng cho một trục nhất định, còn mô hình giữa bóng và mặt phẳng có đến hai trục x, y vuông góc nhau. Nhưng vì cả hai trục này có mô hình toán học giống nhau hoàn toàn nên nhóm nghiên cứu chỉ trình bày phương trình động học trên một trục x. Sơ đồ minh họa mô hình cân bằng giữa bóng và mặt phẳng trên một trục x (hình 2. Dựa trên sơ đồ đó, ta có thể tìm được phương trình động học, mối quan hệ động học giữa vị trí x của bóng với góc của mặt phẳng .
Dựa vào định luật 2 Newton, tống hợp lực tác dụng lên quả bóng sẽ là: mb x(t ) F Fx,t Fx,r (2.1) Trong đó, mb là trọng lượng quả bóng, x là vị trí hiện tại của quả bóng, Fx , r là lực quay sinh ra trong quá trình chuyển động của bóng, lực này có xu hướng chống lại ngoại lực tác dụng vào bóng và Fx ,t là ngoại lực tác dụng lên bóng được gây ra bởi trọng lực của trái đất. Ở đây theo trường hợp lý tưởng, ta không xét đến ma sát của bóng.4: Mô tả sơ đồ minh họa mô hình cân bằng giữa bóng và mặt phẳng theo một trục. 7 Luan van GVHD: TS Lê Mỹ Hà Gỉa sử rằng: Ta đặt chiều của điện áp cấp vào động cơ làm cho động cơ quay ngược chiều kim đồng hồ là chiều dương của dòng điện, đồng thời, chiều này cũng chính là chiều dương của động cơ. Theo chiều như vậy, động cơ sẽ nâng mặt phẳng lên và quả bóng sẽ lăn theo chiều từ trái sáng phải, chiều này ta cũng sẽ đặt là chiều dương của quả bóng.
Vị trí không của quả bóng, x 0 sẽ là vị trí trung tâm của mặt phẳng. Góc không của động cơ, 1 sẽ là vị trí mà lúc trục x của mặt phẳng song song với mặt đất, nói cách khác, khi đó 0. Để quả bóng đạt được trạng thái tĩnh, lực quán tính của bóng phải bằng với ngoại lực sinh ra bởi trọng lực. Như hình minh họa 2.1, lực Fx ,t theo chiều x (dọc theo hướng của mặt phẳng) chính là lực gây ra bởi trọng lực có phương trình như sau: Fx ,t mb g sin (t ) (2.2) Lực quay sinh ra bởi sự chuyển động của bóng, có phương trình: b Fx ,r (2.3) rb Trong đó rb là bán kính quả bóng, b là moment quán tính với phương trình b J b b (t ) (2.4) Trong đó b là góc của quả bóng.
Áp dụng phương trình mối quan hệ giữa góc và cung là x(t ) b (t ). Chính vì thế, lực quay của bóng theo phương x sẽ trở thành: J b x(t ) Fx ,r (2.5) rb 2 Bây giờ, ta thay lực quay của bóng và ngoại lực tác dụng vào bóng vào phương trình 2.1, ta có thể suy ra được phương trình động học phi tuyến của bóng và mặt phẳng theo một trục x như sau: 8 Luan van GVHD: TS Lê Mỹ Hà J b x(t ) mb x(t ) mb g sin (t ) (2.6) rb 2 Suy ra gia tốc của quả bóng sẽ là: mb g sin (t )rb 2 x(t ) mb rb 2 J b (2.2 Mối quan hệ giữa gia tốc quả bóng và góc của động cơ Trong phần này, phương trình động học vị trí của bóng liên hệ với góc của động cơ là một phương trình phi tuyến (trong đó bao gồm các hàm lượng giác). Chính vì vậy, để thuận tiện cho việc thiết kế bộ điều khiển, ta cần phải tuyến tính hóa phương trình này. Bây giờ, chúng ta sẽ tìm hiều xem làm thế nào để tìm mối quan hệ giữa góc của dộng cơ 1 , và góc của mặt phẳng theo trục x .
Theo như hình minh họa 2.1, ta thấy rằng mặt phẳng và góc của động cơ khi có sự thay đổi sẽ bị thay đổi theo cùng một độ cao là h. Lấy sin của góc mặt phẳng sẽ cho ta: 2h sin (t ) (2.8) L plate Và lấy sin của góc động cơ, ta được phương trình: h sin 1 (t ) (2.9) rarm Trong đó, rarm là cánh tay đòn của động cơ. Từ hai phương trình trên ta có thể tìm được mối quan hệ giữa góc mặt phẳng và góc của động cơ: 2rarm sin 1 (t ) sin (t ) (2.10) Lplate Ta thay phương trình 2.7, ta được mối liên hệ giữa gia tốc bóng và góc của động cơ: 2mb .11) Lplate 9 Luan van GVHD: TS Lê Mỹ Hà Vì phương trình trên là một phương trình phi tuyến nên việc điều khiển rất khó nên ta sẽ tuyến tính hóa phương trình này bằng cách tính gần đúng. Vì 1 10o nên sin 1 (t ) 1 (t ) , vì vậy phương trình 2.11 được viết lại như sau: 2mb .3 SƠ ĐỒ KHỐI HỆ THỐNG 2.1 Vòng hồi tiếp trong của hệ thống Sau khi tìm được mối liến hệ góc động cơ và vị trí quả bóng ta có sơ đồ khối như hình 2.5: Sơ đồ khối biểu diễn mối liên hệ giữa góc động cơ và vị trí quả bóng.
Trong đó Vm là điện áp cung cấp cho động cơ. Để động cơ quay theo góc ta mong muốn thì chúng ta cần thiết kế bộ điều khiển cho động cơ này. Bộ điều khiển này là bộ điều khiển vòng kín, do đó chúng cần phải có một cảm biến để hồi tiếp vị trí động cơ. Cụ thể, ở đây chúng ta sẽ dùng bộ điều khiển PID và encoder để hồi tiếp vị trí cho động cơ.6: Sơ đồ khối vòng hồi tiếp trong của hệ thống Theo như hình 2.6, chúng ta có thể thấy rằng, khi động cơ quay, encoder sẽ tạo ra các xung, nhờ vào đó, bộ điều khiển sẽ đếm các xung đó tính toán được góc hiện tại.
So sánh góc hiện tại với góc đặt bằng cách trừ nhau ra được sai số, đem sai số đó nhân với các hằng 10 Luan van GVHD: TS Lê Mỹ Hà số PID (sẽ được trình bày ở chương 5) ta sẽ điều khiển động cơ theo góc theta ta mong muốn.2 Vòng hồi tiếp ngoài của hệ thống Ở mục trước, ta đã có sơ đồ hồi tiếp trong của hệ thống. Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là ta vẫn chưa biết góc đặt sẽ đặt bao nhiêu và vị trí quả bóng trong vòng hồi tiếp trong này vẫn chưa được điều khiển. Do đó ta cần phải có một bộ điều khiển khác điều khiển vị trí của quả bóng. Ở đây ta vẫn sẽ sử dụng bộ điều khiển để giải quyết vấn đề này, bằng cách sử dụng camera đặt ở trên sẽ chụp ảnh của quả bóng liên tục xử lý ảnh.7: Sơ đồ khối vòng hồi tiếp ngoài của hệ thống.
Dựa vào hình 2.7, ta có thể thấy rằng khi camera chụp ảnh, ảnh sẽ được xử lý và sẽ cho ra được tọa độ của quả bóng trên mặt phẳng, dựa trên sự khác biệt giữa vị trí hiện tại và vị trí đặt mà ta mong muốn đặt quả bóng, bộ điều khiển PID sẽ tính được sai số và tìm ra góc cần quay, góc đó chính là góc đặt của động cơ cần quay. Đến đây, ta có sơ đồ khối của hệ thống như hình 2.8: Sơ đồ khối của hệ thống. 11 Luan van GVHD: TS Lê Mỹ Hà 2.4 LÝ THUYẾT VỀ BỘ ĐIỀU KHIỂN PID 2.1 Bộ điều khiển PID PID là bộ điều khiển vi tích phân tỉ lệ (Proportional integral Derivative) có cơ chế phản hồi vòng điều khiển. PID được ứng dụng rộng rải trong các hệ thống điều khiển công nghiệp như điều chỉnh nhiệt độ, tốc độ động cơ, tốc độ dòng chảy, áp suất….
Bộ điều khiển PID tính toán một giá trị sai số giữa giá trị đo được và giá trị đặt mong muốn. Bộ điều khiển sẽ thực hiện giảm tối đa sai số bằng cách điều chỉnh giá trị điều khiển đầu vào. Để có một bộ PID tốt thì các thông số PID phải tính toán và điều chỉnh theo tính chất của hệ thống.